.

.

a

Hoa đào nở, chim én về, mùa xuân lại đến. Chúc quý thầy cô và anh chị em đồng môn năm mới Ất Tỵ 2025 : - nghìn sự như ý, vạn sự như mơ, triệu sự bất ngờ, tỷ lần hạnh phúc.
THƯƠNG CHÚC THẦY CÔ, ANH CHỊ EM ĐỒNG MÔN TRƯỜNG HOÀNG DIỆU - MỘT NĂM MỚI ẤT TỴ 2025 AN KHANG THỊNH VƯỢNG - VẠN SỰ NHƯ Ý

16 tháng 2 2025

PHÂN ƯU CỤ BÀ VÕ THỊ TUYẾT THÂN MẪU CỦA NGÔ LÀI SƯƠNG HD65.




 

Xe scooter điện.



 Ngày nay, xe scooter điện đang trở thành biểu tượng của sự tiện lợi và phong cách trong các thành phố hiện đại. Nhưng ít ai biết rằng, hơn một thế kỷ trước, chiếc scooter đầu tiên đã xuất hiện trên đường phố với thiết kế và công năng không hề thua kém những mẫu xe hiện đại.


Trong bức ảnh đen trắng này là hình ảnh của một phụ nữ thanh lịch, mặc trang phục thập niên 1910, đang cưỡi trên một chiếc Autoped – chiếc scooter tiên phong được sản xuất từ năm 1915 đến 1922. Autoped có hai phiên bản: một sử dụng động cơ xăng và một sử dụng động cơ điện với phạm vi di chuyển lên đến 19 km – một con số ấn tượng vào thời điểm đó.

Sự đổi mới dành cho phụ nữ và xã hội

Điều thú vị là Autoped nhanh chóng trở thành phương tiện ưa thích của phụ nữ, bởi vào thời điểm đó, rất ít phụ nữ sở hữu bằng lái xe. Chiếc scooter nhỏ gọn và dễ điều khiển này mang đến cho họ sự tự do di chuyển chưa từng có trước đây. Không chỉ phụ nữ, nhân viên bưu điện và cảnh sát cũng sử dụng Autoped như một phương tiện hiệu quả để di chuyển nhanh chóng trên đường phố đông đúc.

Khi quá khứ định hình tương lai

Nhìn vào chiếc Autoped, ta không khỏi kinh ngạc trước sự tiên phong trong thiết kế và công nghệ của nó. Thật thú vị khi nhận ra rằng những gì chúng ta nghĩ là “công nghệ hiện đại” thực ra đã được hình thành từ hơn 100 năm trước.

Autoped không chỉ là một phương tiện di chuyển; nó là biểu tượng của sự tiến bộ, thể hiện tinh thần đổi mới vượt thời gian. Từ những đường phố mù sương của thập niên 1910 đến những đại lộ hiện đại ngày nay, chiếc scooter nhỏ bé này đã chứng minh rằng ý tưởng tốt không bao giờ lỗi thời.

Hình ảnh người phụ nữ trên chiếc Autoped không chỉ đơn thuần là một khoảnh khắc trong lịch sử – đó là lời nhắc nhở rằng, sự tự do và đổi mới luôn là động lực thúc đẩy xã hội tiến về phía trước.

#Autoped #ScooterDien #LichSuCongNghe #SuTienPhong #DoiMoiTu100NamTruoc #CauChuyenQuaKhu #PhuNuVaCongNghe #PhuongTienDiChuyenXanh 


Nằm giữa lòng khu phố Montmartre quyến rũ của Paris, Place Dalida là một điểm đến không thể bỏ qua đối với những người yêu âm nhạc và văn hóa Pháp. Được đặt theo tên của nữ ca sĩ huyền thoại Dalida, người đã từng sống và làm việc tại khu phố này, Place Dalida là một biểu tượng của sự ngưỡng mộ và tôn vinh dành cho một nghệ sĩ tài hoa.

Place Dalida tọa lạc tại giao điểm của Rue Girardon và Rue de l'Abreuvoir, một trong những con phố đẹp nhất và yên bình nhất của Montmartre. Quảng trường này không lớn, nhưng mang một vẻ đẹp đặc biệt, với những hàng cây xanh mát, những băng ghế gỗ mời gọi và một bức tượng đồng của Dalida, được đặt ở vị trí trung tâm.

Bức tượng Dalida là tác phẩm của nhà điêu khắc Alain Aslan, được khánh thành vào năm 1997, nhân dịp kỷ niệm 10 năm ngày mất của nữ ca sĩ. Bức tượng khắc họa hình ảnh Dalida với vẻ ngoài tươi tắn, rạng rỡ, như thể cô vẫn còn sống mãi trong lòng người hâm mộ. Điều đặc biệt là phần ngực của bức tượng sáng bóng hơn so với các phần khác, do người hâm mộ thường xuyên chạm vào để thể hiện sự ngưỡng mộ và cầu may mắn.

Place Dalida là một điểm đến để chiêm ngưỡng bức tượng và tưởng nhớ Dalida, đồng thời là một không gian để thư giãn, tản bộ và tận hưởng không khí trong lành của Montmartre. Vào những ngày đẹp trời, bạn có thể ngồi trên những băng ghế gỗ, ngắm nhìn những hàng cây xanh mát, lắng nghe tiếng chim hót và cảm nhận được sự yên bình, tĩnh lặng của khu phố.
Place Dalida cũng là một điểm dừng chân lý tưởng cho những ai muốn khám phá Montmartre. Từ đây, bạn có thể dễ dàng đi đến các điểm tham quan nổi tiếng khác của khu phố, như Sacré-Cœur, Place du Tertre hay Musée de Montmartre.

Dalida (1933-1987) là một nữ ca sĩ và diễn viên người Pháp gốc Ý. Bà là một trong những nghệ sĩ thành công nhất của Pháp, với hàng loạt các bài hát nổi tiếng như "Bambino", "Gigi l'amoroso" hay "Il venait d'avoir 18 ans". Dalida nổi tiếng ở Pháp và trên toàn thế giới, với giọng hát đặc biệt và phong cách biểu diễn quyến rũ. Bà cũng là một biểu tượng của phong cách và sự quyến rũ, được nhiều người ngưỡng mộ và yêu thích.

Hoàng Pane Vino


QUÊ HƯƠNG EM CÓ CHÍN DÒNG SÔNG NHƯ CHÍN CON RỒNG…

Sông Cửu Long là cửu tử, tức chín con rồng.
Nước sông chảy ra Biển Đông qua 9 cửa là: Đại, Tiểu, Hàm Luông, Cổ Chiên, Cung Hầu, Ba Lai, Định An, Ba Thắc, Trần Đề.
Xưa rày thiên hạ hay thắc mắc cái cửa Trần Đề và cửa Cung Hầu:
1. Cửa Trần Đề hay cửa Tranh Đề?
Trên thư tịch Miền Nam thì chữ cửa Tranh Đề hay Trần Đề đều như nhau, chỉ một cửa biển ở Sóc Trăng. Ngày nay có huyện Trần Đề.
Trước 1975 Ba Xuyên (Sóc Trăng) có quận Lịch Hội Thượng, sau 1975 là huyện Trần Đề. Học giả Vương Hồng Sển nói Trần Đề hay Tranh Đề đều do người Pháp viết sai.
Học giả giải thích:
"Còn địa danh cửa Tranh Đế hay cửa Tranh Đề hoặc Trần Đề, ba danh từ này đều sai và đính chính lại là cửa Trấn Di (trấn là giữ gìn, Di đây là người Miên, bởi vào thời Pháp người họa sĩ nào phóng đại họa đồ trong bảng địa dư Pháp, Paul Alinot, đã lầm đọc không rõ và viết ra sai)."
Qủa thiệt! Thời Mạc Thiên Tích lập bốn đạo Long Xuyên, Kiên Giang, Trấn Giang và Trấn Di trong trấn Hà Tiên. Trấn Di là đất Sóc Trăng và Bạc Liêu ngày nay.
Chữ Trấn Di 鎮夷 có nghĩa là trấn giữ ở vùng đất của người Thổ (Khmer). Nên cửa Trấn Di là chuẩn xác.
Chẳng hiểu vì sao người Pháp làm bản đồ ghi là cửa Tranh Đề rồi cửa Trần Đề?
Sóc Trăng nằm ở hữu ngạn hạ lưu sông Bassac (sông Hậu) nên địa hình chủ yếu là các giồng đất cát lẫn với các bồn trũng và kinh rạch. Năm 1757, Vua Chân Lạp là Nặc Thuận cắt đất Ba Thắc (Sóc Trăng và Bạc Liêu) dâng cho chúa Nguyễn, chúa Nguyễn Phước Khoát nhận vùng đất Ba Thắc này, lập ra Trấn Giang (Cần Thơ), Trấn Di (Sóc Trăng – Bạc Liêu), sau đó lập phủ Ba Thắc thuộc quyền quản hạt của dinh Long Hồ, vua Minh Mạng đổi là đất Ba Xuyên.
“Gặp cơm Ba Thắc thơm ngon
Chan nước mắm Hòn ăn chẳng muốn thôi.”
Học giả Trương Vĩnh Ký giải thích chữ Sóc Trăng là phiên âm theo tiếng Khmer Srock Khleang nghĩa là kho báu, kho bạc. Ông Vương Hồng Sển thì chỉ viết tên quê hương ông là Sốc Trăng.
Sông Cửu Long tên quốc tế là Mékông, từ Tây Tạng, chảy qua Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam Bốt và Việt Nam. Đến Cam Bốt, tại Nam Vang ở khúc sông 4 mặt, sông Mékông chia ra làm 2 nhánh lớn chảy qua Nam Kỳ của Việt Nam. Nhánh bên trái là sông Mekong và nhánh bên phải là sông Tonlé Bassac.
Nhánh Mekong người Nam Kỳ gọi là Tiền Giang, chảy qua Tân Châu, Hồng Ngự, Cao Lãnh.
Từ Mỹ Thuận đến Cái Bè Cai Lậy chia ra làm 4 sông đổ ra biển bằng 6 cửa:
- Sông Mỹ Tho, chảy qua thành phố Mỹ Tho về Gò Công, trổ ra biển bằng 2 cửa sông Cửa Tiểu và Cửa Đại.
- Sông Ba Lai chảy qua phía Bắc tỉnh Bến Tre ra cửa Ba Lai.
- Sông Hàm Luông chảy qua phía Nam tỉnh Bến Tre, ra cửa Hàm Luông.
Sông Cổ Chiên từ Vĩnh Long chảy xuống làm thành ranh giới tỉnh Bến Tre-Trà Vinh trổ ra biển bằng hai cửa Cổ Chiên và Cung Hầu.
Nhánh Bassac tức Ba Thắc là sông Hậu chảy qua Châu Đốc, Long Xuyên, Cần Thơ, tới đất Sóc Trăng sông chảy ra biển bằng 3 cửa là cửa Định An, cửa Ba Thắc (Bassac), cửa Tranh Đề (Trần Đề).
Nay cửa Ba Thắc bị bồi lấp.
Đất Ba Thắc kéo dài từ Cần Thơ tới cửa Ba Thắc. Bassac xuất xứ từ Păm prek Bàsàk tức ông nặc tà, ông tà.
Vì vùng Ba Thắc, Cần Thơ, Trà Vinh có nhiều sốc của Miên mịt mùng cách xa dinh Long Hồ nên lị sở dinh Long Hồ phải dời từ Cái Bè về chợ Vĩnh Long cho gần để kiểm soát.
Xứ Ba Thắc vào thời vua Thiệu Trị từng có vụ nổi loạn của người KhmeR, tướng Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Tấn Lâm phải hai mặt giáp công mới dẹp xong.
Mà nghĩ ngộ! sông Hậu là con sông chảy qua Châu Đốc, Sóc Trăng,Trà Vinh là những xứ Khmer của Nam Kỳ ta, Tonlé Bassac vẫn uốn éo với sóc Khmer huyền bí.
Ba Thắc ngày xưa là đất thương cảng, thương cảng Bãi Xàu (Chợ Cũ Mỹ Xuyên), một thương cảng quốc tế sầm uất nhứt đất Nam Kỳ, Sài Gòn lúc đó xếp ve trước Bãi Xàu.
“Đất Sóc Trăng quê mùa nước mặn
Tôi ra Vàm Tấn chở nước về xài
Về nhà sau trước không ai
Hỏi ra em đã theo trai mất rồi.”
Trong “Sài Gòn năm xưa” ông Vương Hồng Sển ghi rằng “Ba Thắc tức vùng Sốc Trăng, Bạc Liêu”.
Ngày nay nói xứ Ba Thắc thì chỉ còn khoanh vùng Sốc Trăng.
Sóc Trăng có 3 sắc dân Việt, Khmer, Hoa, trong đó người Khmer là người bổn địa:
"Sốc Trăng hai tiếng mỹ miều
Nửa Miên, nửa Việt, nửa Tiều, nửa Tây."
Nguyễn Liên Phong ca ngợi Bãi Xàu trong ”Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca” như sau:
“Bãi Xàu đông đảo phố phường
Trong chợ ngoài bảo cầu đường đẹp xinh
(…) Ghe to lồi mắt xanh mang
Chở chuyên lúa gạo nhảy tràn khỏi then.
Xuống lên Chợ Lớn bán quen
Tiếng gạo Ba Thắc ngợi khen Nam Kỳ.”
2. Cửa Cung Hầu nằm ở Bến Tre: Cái tên Cung Hầu cũng do người Pháp viết sai.
Học giả Vương Hồng Sển giải thích:
"Một cải chính khác là cửa Cung Hầu hay cửa Công Hầu đều sai, đúng chữ là cửa Cồn Ngao, nơi sanh trưởng của quan Phan Thanh Giản. Hai chữ “Ngao Châu”, dịch từ hai chữ Nôm Cồn Ngao, người Pháp không đọc đúng chữ nên họ trọ trẹ là “cung gao, công gao” và ông nào đó, Việt chứ không phải Pháp, thi vị hóa luôn ra cửa Cung Hầu hay cửa Công Hầu."
Có một địa danh ở Ba Tri Bến Tre mà sử Nguyễn ghi trang trọng nguyên quán vị tiến sĩ đầu tiên của Nam Kỳ - Phan Thanh Giản, đó là Gãnh Mù U.
Gãnh Mù U là cái doi đất de ra mé sông Hàm Luông cũng gần biển, khi xưa các lưu dân Việt từ Trung vô Nam đi bằng che bầu đã đậu ở cái gãnh này trước khi vào các nơi định cư khác.
Tổ tiên ông Phan Thanh Giản cũng trong số lưu dân, nhưng đã chọn Gãnh Mù U định cư luôn.
Phan Thanh Giản sanh năm 1796 tại Gãnh Mù U, làng Bảo Thạnh, Ba Tri một nơi đất đai không tốt lắm, gần biển nên mặn chát.
Thời khẩn hoang xứ Ba Tri là xứ sình lầy, rừng rậm ven biển, người Trung Kỳ đã đi ghe bầu vô. Gia đình quan Phan Thanh Giản cũng từ Miền Trung vô định cư ở Gãnh Mù U làng Bảo Thạnh của xứ này.
Ba Tri cũng là xứ giồng cát, những Giồng Bông, Giồng Gía, Giồng Cá, Giồng Chuối, Giồng Tre, Giồng Trơn, Giồng Tràm, Giồng Ông Đồ, Giồng Cây Me, Giồng Quéo…
Phan Thanh Giản mất mẹ năm 7 tuổi, bà mẹ kế chật vật nuôi con chồng vì ông chồng Phan Thanh Ngạn luôn đi xa.
Phan Thanh Giản đi học được bà mẹ kế Trần Thị Dưỡng chu cấp lương thực gồm ba mươi tô gạo và ba mươi con mắm trong một tháng.
Nhà nghèo nên cố học, năm 1825 trào Minh Mạng thứ tám, Phan Thanh Giản đậu cử nhơn tại trường thi hương Gia Định. Chỉ một năm sau,1826 tại trường thi hội ở kinh đô Huế ông đậu tiến sĩ.
Tiến sĩ Phan Thanh Giản làm quan ở kinh đô Huế, chừng vài năm ông mới về quê nhà ở Gãnh Mù U, mà mỗi lần đi đều xa xôi khó khắn.
Chúng ta hãy hình dung ra con đường đi thế này, từ Huế ông vô Gia Định, từ Gia Định đi ghe hay đi ngựa về Mỹ Tho, tới Mỹ Tho ông bắt ghe ở vàm Mỹ Tho chạy ra sông Tiền qua cửa Đại xuyên về Ba Tri. Mà ông phải ngủ ở Mỹ Tho lại một đêm.
Lương Khê Phan Thanh Giản (1796 - 1867) là một nhân vật lịch sử mà người Lục Tỉnh nào cũng thương mến vì đức độ và tấm lòng của ông với quê hương.
Là ông tiến sĩ đầu tiên của Lục Tỉnh, làm quan vẫn nghèo vì quá thanh liêm, đức độ, không ngại gian khó.
Cả đời làm quan có lúc bị biếm phạt làm anh lính quét công đường. Có năm lần bị vua giáng chức. Có khi bị ra tận Thái Nguyên. Cả một triều đình Huế mà chuyện lớn nhỏ gì khi có chiến tranh với người Pháp cũng đẩy ông ra, một ông già lụm cụm trên thất thập chịu trận. Có lúc ông già trên 70 tuổi đó phải lụm cụm qua tận Paris Pháp Quốc.
Từ năm 1862 đến năm 1867, Tiến sĩ Phan Thanh Giản được vua Tự Đức giao nhiệm vụ khó khăn nhứt là thương lượng với Pháp để đòi đất,đòi ba tỉnh Miền Đông Nam Kỳ, để “thương nghị” trong chiến tranh trong khi Pháp hùng mạnh võ khí hiện đại tận răng, còn trong tay ông không có tấc sắt, cùng một triều đình có binh lực vô cùng lạc hậu.
Trung tuần tháng 6/1867 Đô đốc De la Grandière dẫn 1.800 lính thủy quân lục chiến Pháp đi trên 16 tàu chiến từ Mỹ Tho qua áp sát thành Vĩnh Long.
Vừa neo bến De la Grandière cho mời quan Kinh lược sứ Nam Kỳ (ba tỉnh Miền Tây) Phan Thanh Giản lên tàu hội đàm rồi bất thần đưa quân chiếm lấy thành Vĩnh Long ngay trong đêm.
Khi bước lên bờ coi như việc đã rồi, nhắm không thể trứng chọi đá đánh lại, sự việc tới nước này rồi nên quan Phan đưa thư kêu tổng đốc An Giang và Hà Tiên buông súng đầu hàng để không đổ máu vô ích, hy vọng giữ nguyên sức lực của quân triều đình nhằm tính kế lâu dài.
Kinh lược sứ Nam Kỳ Phan Thanh Giản biết mình sẽ phải làm gì, chỉ còn cái chết, vì ông là một mệnh quan triều đình.
Quân lính dân tình có thể sống nhưng phận quan triều đình với chức trách mà không chu toàn thì phải chết.
Ông tuyệt thực 17 ngày. Trước đó ông ngoáy về Huế lạy mấy lạy,thảo một tờ sớ gửi vua Tự Đức, gửi lại ấn tín, áo mão trả về Huế, một lời tạ từ cuối cùng.
De la Grandière rất kính ông nên sai đem đồ ăn thức uống, thuốc bổ lại thuyết phục ông ăn uống lại, ông biểu đem về.
Rủi, nhịn ăn không chết, ông bèn uống thuốc phiện với dấm thanh tự kết liễu cuộc đời. Ngày 4/8/1867 ông qua đời.
Trước đó Phan Thanh Giản gọi hết con cháu lại giường trối:
”Ta chết đi thì nhớ đem hòm ta về chôn tại quê nhà Gãnh Mù U làng Bảo Thạnh cạnh tổ tiên ta bên. Còn tấm triện thì bỏ, nếu không hãy đề :"quan tài của một học trò già họ Phan gốc ở miệt biển Đại Nam. Bia mộ cũng như vậy thôi.”
Rốt cuộc ông tự đề bia cho ông luôn, ông viết:“Minh sinh thỉnh tỉnh, nhược vô ưng thư: Đại Nam hải nhai lão thư sinh tánh Phan chi cửu, diệt dĩ thử chi mộ.
Trước khi tắt thở ông làm bài thơ mà sau này kêu là di bút:
"Non nước tan tành hệ bởi đâu?
Một vùng mây bạc chốn Ngao Châu
Ba triều công cán đôi hàng sớ
Sáu tỉnh cương thường một gánh thâu
Ải bắc ngày trông tin nhạn vắng
Thành nam đêm quạnh tiếng quyên sầu
Minh tinh chín chữ lòng con tạc
Trời đất từ đây bặt gió thu."
Chữ Ngao Châu được nhắc tới.
Bài thơ này được Đông Hồ đăng trên Nam Phong tạp chí số 107 (7-1926) với chú thích: Ông Phan Thanh Giản khi sắp mất có làm bài thơ di bút để lại, và dặn con để minh tinh chín chữ “Hải nhai thư sinh Phan Lương Khê chi cữu” 海涯書生潘良溪之柩.
Mỗi lần nghe ai nhắc tới người học trò già ở gãnh Mù U làng Bảo Thạnh xa xôi, Tiến sĩ Phan Thanh Giản là lòng lại dậy lên cái gì đó ngậm ngùi, buồn lắm.
“Ta sanh ra vốn nhà nghèo
Lòng mến ưa cổ đạo
Đèn sách công mười năm
Không chí ở cơm áo
Tú mú học một mình
Hiểu biết chỉ lỗ mỗ”
(Lương Khê thi thảo)
Tiến sĩ Phan Thanh Giản sau 1975 bị đập tượng, bị xóa tên đường thô bạo, bị kết án, bị đề án tử ngay trong sách giáo khoa dạy con cháu Miền Nam.
Ông Vương Hồng Sển cũng nói lúc sanh tiền:
“Bấy lâu nay (1990), tôi nghe đầy tai lời trách quan Phan làm cho mất nước và vua Tự Ðức đứng đầu tội ấy. Thấp cổ bé miệng, tôi có dại gì cãi họ duy trong thâm tâm riêng tưởng họ chưa tới mắt cá quan Phan”.
Đó là cái tình Nam Kỳ Lục Tỉnh, cùng thân phận người Nam Kỳ với nhau sau 1975 bị chà đạp.
Phan Thanh Giản là niềm tự hào của con cháu Nam kỳ Lục Tỉnh. Con cháu có cảm giác mắc nợ gì đó với ông, nó đau đớn khôn nguôi.
Mời bạn đọc một đoạn văn tưởng niệm ông ở nước Úc xa xôi:
"Bi kịch cuối đời của Phan Thanh Giản gắn liền với giai đoạn các tỉnh Nam kỳ bị thực dân Pháp xâm chiếm (1862-1867), mà đỉnh điểm là việc ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ gồm Vĩnh Long, An Giang, và Hà Tiên lọt vào tay quân xâm lăng Pháp lúc ông đang được giao trọng trách Kinh lược sứ trấn giữ các tỉnh này.
Thành mất, quan Phan đã chọn cho mình cái chết như một vị tướng trung liệt.
Nhắc đến cái chết của quan Phan khiến tôi bùi ngùi xúc động nhớ lại hình ảnh bà nội tôi 70 năm về trước, lau chùi nước mắt mỗi khi nghe xong bộ dĩa hát “Phan Thanh Giản tuẩn tiết”.
Hỏi sao lại khóc, bàn lặng lẽ trả lời: “Tội nghiệp Ông Cố quá”.

NGUYỄN GIA VIỆT






NHỚ THẦY - Lê Trần










Một chiều buồn khi dự đám tang một người bạn, một người anh ở K14 THĐ cựu HS Nguyễn Thành Lâm. Tụi em có họp mặt ở một quán bia ở Chánh Nghĩa để ôn lại kỷ niệm ở ngôi trường cũ. Người đầu tiên nhắc đến Thầy là bạn Phương ,Phương có đọc hai câu thơ và nói nhờ Thầy mà bạn biết yêu mến văn thơ. Sau đó đến Ngô Tùng Long và em cũng nhớ và nhắc đến Thầy. Em nói với Long trong một buổi học Thầy có đọc bài Đây thôn Vỹ Dạ rồi cho cả lớp mỗi người chọn một câu thơ theo ý mình. Có bạn chọn câu"Áo em trắng quá nhìn không ra" hay "Lá trúc che ngang mặt chữ điền" và em thì chọn câu "Ở đây sương khói mờ nhân ảnh" em và các bạn không ai chọn ra được câu thơ hay nhất trong bài. Riêng câu em chọn thầy nói là màu mè cải lương (bây giờ em thấy vậy thật ) và câu hay nhất trong bài Thầy nói là câu "Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay" một câu thuần việt gợi cảnh gợi tình. Long nói gần 50 năm mà ông còn nhớ, vậy thì ông nên viết gì đó về những kỹ niệm với Thầy.
Em không dám nhận lời vì quả thật Thầy là bóng mát vĩnh cửu ở ngôi trường THĐ và K14 nói riêng, một tượng đài sâu đậm trong lòng chúng em. Em sợ mình không đủ chữ nghĩa làm công việc này nhưng em cũng liều viết lên đôi dòng để bày tỏ lòng tôn kính và nỗi niềm thương nhớ người thầy đã dạy dỗ truyền đạt cho chúng em tâm hồn yêu Văn Chương, yêu thơ ca.
Không có được may mắn như các bạn ,hết lớp 10 năm 1973 em đã rời lớp xa trường .Khoảng thời gian 47 năm em đã không được gặp thầy. Qua theo dõi trên mạng em mới biết được thầy mình Giáo sư Võ Tấn Phước ngày xưa nay là nhà văn Võ Kỳ Điền. Em đã say sưa tìm đọc những tác phẩm của Thầy từ :
Kẻ đưa đường
Pulau Bidong Miền đất lạ
Câu hỏi kiếp người
Và còn rất nhiều tiểu luận phê bình văn học của Thầy. Mình thật vô cùng ngưỡng mộ -sung sướng khi được thấy thêm tầm vóc quá lớn của Thầy ,những tác phẩm rất hay, rất riêng với giọng văn Nam Bộ, kiến thức uyên thâm như vô tận của Thầy. Lần thứ nhất em xin kết face với thầy vào ngày 11/7/2019 nhưng không được có lẽ Thầy bận...Hơn một năm sau vào ngày 26/7/2020 em nhắn vào Messenger Thầy nguyên văn như sau "em là học trò của Thầy tại THĐ ",và hạnh phúc vỡ òa khi được Thầy hồi đáp .Mình như nghe lại được âm vọng hào sảng khi thầy giảng bài ngược về gần 50 năm trước. Mình xúc động quá không dám trò chuyện với Thầy lâu mà xin phép từ biệt để Thầy được nghỉ ngơi
Trong hai năm được học Thầy năm lớp 8, 9 em còn nhớ như in khi đến lớp Thầy hay mặc áo trắng cộc tay và chiếc quần tây màu sáng, dáng đi Thầy thật dứt khoát trên tay bao giờ cũng có cầm cuốn sổ tay bìa màu đen (mà em chưa bao giờ thấy Thầy mở ra nhìn để giảng) Giọng Thầy hào sảng như chuông đồng vang xa. Chữ và văn thơ như từ bụng Thầy đi ra . Giờ học của Thầy qua rất mau vì nó quá hấp dẫn bổ ích chúng em ai cũng chăm chú học mà như thưỡng thức cái hay cái đẹp của văn thơ .
Chúng em vẫn nhớ giọng đọc hùng hồn trầm bổng của Thầy qua các bài :Hàn nho phong vị phú ,Uống rượu tiêu sầu ,Đôi bờ ,Đôi mắt người Sơn Tây ,Tống biệt hành ,Tình già ,Thời mới nhớn, Giai Nhân,... Em rất thích những câu lục bát mà Thầy trích :
Nắng đi để mộng tàn lây
Tình đi để gió sương đầy quán không
(Chợ chiều. VHC )
Hay
Đồn xa quằn quại bóng cờ
Hắt hiu buồn tự ngàn xưa thổi về
(Đồn Xa .Huy Cận )
Tôi bước đi không thấy phố thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ
(Trần Dần )
Bạn Phạm Việt Văn thì nhớ thầy qua câu thơ "Anh đi đường có hoa ,Tôi nằm trong tủi lạnh. ôm mặt khóc rưng rức. Ra đi là hết rồi "(Viễn Khách. Xuân Diệu ).
Em còn nhớ thêm một chuyện khác ,vào năm lớp 9 thì phải, trong lớp có một bạn mang tên quá phồn thực , có lẽ lúc đó Thầy đã nhìn ra hậu vận của bạn nên nói tên em như vầy nữa lớn làm ông này ông nọ làm sao, thế là bạn kia cải chính hộ tịch thêm một dấu nhỏ quả thực sau này bạn đó cũng là một ông hơi nhớn nhớn...
Thầy ơi công ơn Thầy đối với chúng em bao la không đong đếm được. Nhớ Thầy em xin được lan man đôi chuyện . Chúng em xin kính chúc Thầy luôn An Khang Hạnh Phúc
Dầu Tiếng 15/9/20 THỨ LỄ
TB: Chuyện trên nửa thế kỷ rồi, đọc lại thầy rất xúc động. Cám ơn Le Tran còn nhớ

14 tháng 2 2025

PHÂN ƯU CỰU GIÁO SƯ TRƯỜNG HOÀNG DIỆU ÔNG GIUSE JOSEPH TRẦN ĐĂNG KHOA








 

SANH LY TỬ BIỆT - Snowynguyen



Con người sinh ra lớn lên rồi phải chiến đấu với cuộc sống, cho sự sinh tồn, lo toan tính toán mọi việc, lo cho gia đình con cái, sự xa hoa cho sự sống của mình.

Mấy ai lo cho sự an yên của tâm hồn, bình an thanh thản ra đi trong thanh nhẹ, mỗi con người sinh ra chạy theo tập quán động loạn của cuộc sống chiến đấu sinh tồn với nó, mà từ bao nhiêu nghìn năm chưa thể thay đổi, chẳng mấy ai biết rằng mình từ đâu đến đây rồi ra đi phải đi về đâu ?

Cái sống đã có và không chuẩn bị cho ngày ra đi, ai cũng sợ sự sanh ly tử biệt, mà không bao giờ nghĩ rằng ta sanh ra lớn lên già nua và bệnh hoạn rồi ra đi với hai bàn tay không, để lại sự nuối tiếc cho xung quanh mình, tâm sự buồn cho những người ở lại. Nếu chúng ta hiểu rằng con người sống trong định luật của Trời định, sanh lão bệnh tử không ai có thể tránh được, vậy mà chúng ta hiểu nó, nhưng vẫn phải chạy theo cái giả tạm mà thực chất con người có hồn và xác, đó là ánh sáng từ thanh nhẹ mà đến, chúng ta đánh mất nó, vì cuộc sống này mình phải tranh đấu cho sự giàu sang mà mọi người đều chạy theo, không lo cho tâm hồn mình thanh nhẹ, sự buồn tủi, uẩn khuất, sự cao ngạo mang theo suốt cuộc đời này, để rồi kết thúc bằng những cơn bệnh giày xéo tâm can mà dù có nắm bao nhiêu tiền của trong tay, hạnh phúc thế gian thế này, cũng phải buông xuôi với hai bàn tay trắng, không nắm được gì không mang được gì trong giờ phút ra đi. Chỉ có sự thanh thản nhẹ nhàng không oán giận buồn tủi, chỉ còn tình thương và sự tha thứ là tồn tại trong tâm hồn mỗi con người, đó là sự thanh nhẹ, khi ra đi thanh nhẹ buông bỏ thì mới trở về nơi thanh nhẹ của nó, còn uẩn khuất, đau khổ, buồn tủi, giận hờn, ghen ghét … những thứ nặng nề này sẽ không thể đi đến sự thanh nhẹ của chính nó.

Đứa trẻ sanh ra không biết ngày giờ nào nó được sanh ra, chỉ có trong giấy chứng nhận là ngày giờ nó được sinh ra, nhưng khi lớn lên nó phải tranh đấu với cuộc sống thì quên đi thân xác này cần có sự khỏe mạnh, mà ít mấy ai lo chăm sóc cho nó khi còn trai tráng, nhưng đến ngày bệnh tật xảy ra, chúng ta cũng không biết trước, chỉ biết rằng nếu mình không chăm lo cho nó cũng như chiếc xe cũ kỹ mà không ai chăm sóc, một ngày nào đó nó bệnh, thì nó sẽ ngưng vì nó không bao giờ được bão trì, nó hư thì sửa cũng có thời hạn, một ngày nào đó rồi cũng vứt nó đi vì nó không thể chạy được nữa, chúng ta cũng thế khi còn đương thời nghĩ mỉnh có nhiều sức khỏe « lấy sức khỏe đó đi kiếm tiền, chạy đôn chạy đáo mà quên rằng mình cần có sức khỏe tốt »  rồi tuổi già đến thì sợ sệch ngày chết, ai cũng sợ cái chết và khi thấy cái chết ấy đến với ai đó trong gia đình thì mình cảm thấy hụt hẫn và đau buồn, nhưng quên rằng mình rồi cũng chuẩn bị cho mình một hành trang thanh nhẹ thế nào ? để có hành trang thanh nhẹ trước lúc ra đi, nghĩ người cũng phải nghĩ đến mình, mới có thể thoát được sự buồn phiền của cuộc sống, ngày ra đi không ai biết trước chỉ có ông Trời là biết rằng ngày mình phải ra đi, kết thúc khóa học tại thế gian này. Còn ra đi thế nào thì theo những gì mình đã làm cho bản thân mình và xung quanh.

Tham sanh úy tử ai cũng thế, khi bệnh tật đến con người sẽ tự quay lại nhìn thấy rằng mình đã đánh mất lãng phí thời gian vàng bạc của mình, vì mình quên mình. Lo cuộc sống tranh đua với sự giả tạm mà mình không nhận thấy, thấy nuối tiếc « ước gì thời gian quay trở lại » nhưng đã quá muộn màng không giữ lại được. Mình sẽ lúng túng trước giờ ly thân và hoảng loạn vì phải chiến đấu với sự sinh tồn giờ phút lâm chung.

Biết trân trọng thân xác này và một tâm hồn thanh nhẹ, thì mới có thể có sự thanh nhẹ ngày mình ra đi, dù giờ phút chiến đấu với bệnh tật hay phút ra đi không báo trước cũng sẽ đón nhận sự thanh thản nhẹ nhàng giờ phút ly thân.

Làm sao có được sự thanh nhẹ, chỉ buông bỏ vật chất và nghiệp lực bấm víu xung quanh thân tâm và tâm hồn này, quên quá khứ không đặt khởi điểm ở tương lai, sống cho hiện tại, giữ tâm thanh tịnh trong hoàn cảnh khó khăn nhất, chắc chắn rằng phải có ân sư thì mọi việc mới có thể lý giải, không bằng lý lẽ đời thường mà có thể có được. Phải có « phương pháp » mới có thể giải quyết mọi sự việc ở thế gian này.

 

Snowynguyen

14/02/2025

Hoa hồng tưởng nhớ anh - Nguyễn Hồng Phúc HD67







Bài viết này dựa theo ký ức và tâm tư, theo bản tính tự nhiên nên lối viết có phần thiếu văn hoa bóng bảy trau chuốt như những người viết chuyên nghịêp. Mong bạn đọc thông cảm và xem như truyện kể lại, nhớ đến đâu kể đến đó…


Tối thứ sáu (8/2/2025) tôi điện về Sóc Trăng hỏi thăm cô em H từ Cali đã về đến Việt Nam chưa. “Em vừa về tối hôm qua anh ba à nên sáng nay còn hơi mệt. Em chuyển phone qua cho anh nói chuyện với anh hai nhe”

“P. đó hả anh hai đang sửa soạn để đi Sài gòn đón con H. về”. Anh tôi trả lời.

“Không anh hai, H. đã về rồi và đang ở với anh đó”. Tôi nói.

Sau đó anh tiếp tục kể chuyện dài dòng lê thê qua màn hình Zalo, nhiều khi xen lẫn tiếng Pháp mà chính tôi cũng không hiểu anh nói gì cho lắm. Từ khi anh về VN hồi đầu tháng 2 năm 2024 anh bị mắc bệnh lú lẫn (dementia) và đang được em gái cho chữa trị tại Sóc Trăng và hình như bệnh anh không khá hơn mà ngược lại càng ngày càng trầm trọng hơn. Tôi gọi điện nói chuyện với anh mỗi tuần để cho anh đỡ buồn, đỡ nhớ nhà và gia đình ở Paris. Tại Sóc Trăng vài bạn HD tới thăm anh vài lần rồi cũng không còn tha thiết với anh vì anh luôn nhắc nhỡ chuyện làm ăn bên Pháp, lý thuyết anh khám phá hay kỹ thuật xác suất thống kê chơi chứng khoán với những ngôn ngữ chuyên môn khoa học khiến cho bạn bè càng không hiểu anh nói gì. Anh nhớ rất rõ những chuyện quá khứ, như những lúc đi bán hàng hội chợ (foire alimentaire/Food show) ở Strasbourg, ở Vienna, ở Rome, Bỉ, kể ra những khám phá của những nhà khoa học lừng danh, v.v… và anh cứ nghĩ mình vẫn còn ở bên Pháp. Nhiều lần tôi phải nhắc nhở anh cố gắng ăn uống đầy đủ, đi bộ, tập thể dục ra ngoài gặp gỡ bạn bè mỗi ngày cho đầu óc thanh thản vì anh đang nghỉ hưu và dưỡng bệnh ở quê nhà. Cũng có nhiều lúc anh than thở “P. có tin tức gì về con anh không”. Anh nhớ da diết con cái nhất là đứa con đầu lòng, bé Hậu mà ảnh thương hết chừng mực và đứa con gái út (Thảo) lúc nào anh cũng lo lắng từng chút một. Ở Sóc Trăng nhiều lúc nhớ con quá, anh xách valise đi đến từng nhà hàng xóm láng giềng hỏi thăm có con của anh đấy không. Thật tội nghiệp cho anh lúc nào cũng nghĩ tới con cái. Tôi có liên lạc với con anh nhưng chúng nó quá bận với con cái nên chưa có dịp liên lạc hỏi thăm anh. Thực ra anh chỉ cần nghe tiếng nói của con cái của anh cũng đỡ thương nhớ phần nào…

 Tối chúa nhật bên Canada tức sáng thứ hai VN (10/2/2025) em gái tôi gọi điện báo tin đã chở anh đi BV Cần Thơ để chụp Scan vì sáng nay thức dậy, anh đánh răng rửa mặt quần áo còn ướt sũng, anh bước xuống vài nấc thang thì bị trượt té, sau đó bị chấn thương sọ não (hemorrhage). 2 giờ sau em gái tôi gọi điện cho tôi biết là xong rồi vì quá trễ, bác sĩ không thể cứu vãn gì được nữa. Thế là anh đã ra đi vĩnh viễn…

 Nghĩ lại cuộc đời này quá vô thường, mới vừa nói chuyện và thấy anh trên Zalo mà 2 ngày sau đó anh đã rũ bỏ tất cả mà ra đi không một lời trăn trối…

Tôi nhắn tin ngay cho con trai lớn anh ở Paris báo hung tin thì bé Hậu gọi điện thoại trả lời tôi và hứa sẽ cố gắng thu xếp về VN nhanh nhất có thể. Hôm sau thứ ba 11 tháng hai anh em nó bay từ Paris về VN đúng lúc. Hôm thứ năm 13 tháng hai lúc 5 giờ sáng, 2 cháu đã chứng kiến việc thiêu đốt và mang hộp tro tàn của cha chúng về chùa làm lễ.

Hồi còn nhỏ tôi rất sợ anh tôi vì cha tôi cho anh cái “quyền huynh thế phụ” để hướng dẫn cho các em trong việc học hành. Đúng là anh có khí phách của một giáo sư. Anh dạy kèm tôi và các em những môn chính như toán và pháp văn khi lên trung học. Mặc dù cha tôi không có trình độ học vấn cao nhưng cha rất quan tâm đến việc học của con cái. Hơn nữa ông lo bận bịu làm ăn nên cho anh hai rất nhiều quyền hành trong gia đình. Thứ nhất anh ấy học giỏi năm nào cũng “nhất lớp”. Thứ nhì anh ấy được quyền dạy dỗ nếu cần và kèm chúng tôi học tại gia. Vài đứa em sinh ra được ba má đặt cho 1 cái tên không được hoa mỹ thì anh vội cho đứa ấy 1 cái tên khác để có phần hoa mỹ hơn. Đến bây giờ tôi vẫn không quên ơn anh cả tôi về sự dạy dổ lúc chúng tôi còn bé thơ.

Anh là tuýp người điềm đạm sẵn sàng giúp đỡ bạn bè. Amh được đa số bạn bè quý mến. Khi học xong lớp đệ ngũ (lớp 9) thì trường Trung học Kỹ thuật Vĩnh Long vừa mở cửa và tuyển học sinh mới. Anh tôi vài vài bạn cùng lớp đi dự thi và trúng tuyển. Học được vài tháng thì anh bỏ về lại Hoàng Diệu Khánh Hưng vì không chịu nổi cảnh xa nhà. Năm sau 1970 khi anh lên đệ tam (lớp 10) thì trai gái được học chung lớp và anh quen được cô bạn gái D. T. Hồng. Hai người có vẻ thân thiết, một cặp trai tài gái sắc. Chị Hồng dáng cao ráo quý phái, nước da trắng trẻo thùy mị. Thỉnh thoảng các anh bạn có bạn gái như TD Bửu, T.H Lén, C.T Trí, v.v..cùng nhau tổ chức đi picnic. Cô Hồng thuộc gia đình quý tộc ở ST, hình như biệt thự nhà chị ở trên đường Tự Đức. Lúc ấy anh than vãn với tôi là hơi ngại về mối tình này vì gia đình tôi không “môn đăng hộ đối cho lắm” mặc dù anh chỉ học vấn giỏi hơn cô ấy mà thôi. Những năm gần đây khi về VN tôi tìm ra quyển nhật ký cũ kỹ của anh, biên lại những kỷ niệm về học tập, tình cảm của anh đối với cô bạn Hồng cũng như những buồn chán thất vọng vì hoàn cảnh 2 gia đình quá khác nhau. Sau kỳ thi tú tài 1 năm 1971 chị Hồng đậu với hạng cao hơn anh tôi. Từ đó tôi thấy anh rất buồn và tự ái từ từ tránh xa cô bạn mà anh rất yêu quý vì nghĩ mình yếu kém không xứng đáng với cô ấy mặc dù anh đứng đầu lớp năm ấy. Và cũng từ đó anh bắt đầu sao lãng phần nào việc học hành lớp đệ nhất (lớp 12) và chuẩn bị thi tú tài 2 nên sau khi đậu Tú Tài 2 năm 1972 với số điểm không đạt đủ tiêu chuẩn đi du học, anh càng thất vọng nặng nề hơn. Tinh thần suy sụp trầm trọng. Anh luôn thủ thỉ với tôi là phải cố gắng phi thường để đạt tiêu chuẩn du học. 

Vào mùa hè đỏ lửa 1972 anh đưa tôi lên Sài gòn tìm thầy giỏi để học luyện thi tú tài 1 (trong 2 tháng) với gs Cù Quang Hưng và cũng chính anh cùng cha tôi đưa tôi lên Vĩnh Long, động viên tôi trong 3 ngày vào kỳ thi tú tài 1 cùng mùa hè năm ấy.

Sau khi tôi đậu tú tài 1 thì anh cũng xong tú tài 2. Tôi và anh lên Sài gòn tiếp tục việc học. Tôi học lớp 12 ở Lasan Taberd còn anh học Y khoa Minh Đức. Hai anh em ở nhà trọ của ông chú ở Thị Nghè, mỗi sáng 2 anh em ăn sáng ở những quán cơm bên lề đường trên xa lộ Xa cảng (bây giờ là đường Điện Biên Phủ nối dài). Sau đó anh đèo tôi trên chiếc Honda dame đến Taberd Saigon rồi anh tiếp tục đi đến đại học Minh Đức. Chiều anh đón tôi về.

Buổi tối hai anh em lái Honda đi trại lính Nguyễn Văn Nho ở Thị Nghè để ăn cơm tháng quân đội, vừa ngon lại vừa rẻ. Một năm trôi qua rồi cũng tôi thi đậu tú tài 2 và chính anh gom góp giấy tờ của tôi để nộp đơn xin đi du học. Sau đó anh chở tôi đến nhà 1 gs dậy luyện nói tiếng Pháp để chuẩn bị du học. Năm trước 1972 anh đã chuẩn bị kỹ càng việc đi du học của anh không thành nên bây giờ anh chỉ tiếp tục lập lại công việc lo giấy tờ thủ tục, dầu sao tương đối dễ dàng hơn.

Làm giấy tờ chuẩn bị du học Canada xong xuôi, anh khuyên tôi nên lên Đà Lạt học tạm ngành Chính Trị Kinh Doanh để làm quen dần với khí hậu xứ lạnh. Anh cũng đưa tôi ra chợ trời Saigon đường Huỳnh Thúc Kháng đề mua áo ấm mùa đông. Anh lo cho tôi từng chút một. Riêng tôi hơi miễn cưỡng chuyện đi du học vì gia đình tôi không khá giả gì. Đi du học sẽ là 1 gánh nặng cho ba má tôi vì còn phải lo cho 9 anh em ở lại Việt Nam. Hơn nữa lúc đó tôi cũng đã đậu vào Cán sự Phú Thọ, và trong thâm tâm tôi sẽ tiếp tục học kỹ sư ở Sài gòn để gần gũi với gia đình chứ đi qua Canada một thân một mình khó lòng xoay sở trong việc sinh sống và học tập. Nhưng anh tôi vẫn muốn tôi đi du học vì số điểm tú tài 2 của tôi vượt tiêu chuẩn du học, điều kiện mà rất nhiều người ở tỉnh nhỏ mơ khó mà có được. Trong lúc chờ đợi Nha Du học xét đơn, tôi bắt máy bay lên học ở Đà Lạt. Lần đầu tiên trong đời được đi máy bay Air VietNam. Anh ở lại Sài gòn chạy tới chạy lui để lo bổ sung hồ sơ xin passport ở bộ Nội Vụ, chờ nhận đơn chấp thuận ở các đại học bên Canada, xin chứng nhận của nhà băng về tình hình tài chính gia đình, đặt vé máy bay, v..v…

Thế rồi đâu cũng vào đó vào đầu tháng 11 năm 1973 anh điện lên Đà Lạt cho tôi báo tin là phải về Sài gòn ngay để chuẩn bị lên đường đi Canada.

Đến tháng tư năm 1975 tường Minh Đức bị giải thể. Anh tiếp tục học ngành Hóa tại Sài gòn. Sau khi đạt được bằng cử nhân anh trở về Sóc Trăng làm giám đốc hãng tôm đông lạnh để xuất khẩu. Anh cũng lập gia đình sau đó và có đứa con trai đầu lòng. Khoảng năm 1984 anh cùng gia đình với đứa con đầu lòng di cư sang Pháp với dạng kiều bào Pháp hồi hương (Rapatriement).

Hay tin gia đình anh di cư sang Pháp tôi mừng lắm vì sau 13 năm du học lần đầu tiên tôi gặp lại anh ở một tỉnh lẻ Metz 200km ở phía đông Paris. Một ít lâu sau anh dọn về Paris sinh sống và học lại ngành điện toán. Anh tìm được việc làm ở tòa lãnh sự Mỹ ở Paris, khâu này chuyên lo về payroll cho nhân viên Mỹ phục vụ ở Âu châu. Không may cho anh gần 10 năm sau họ đổi hệ thống computer từ IBM 360 sang mini-computer nên sa thải hết một equipe IT và họ dùng dịch vụ nhà băng (outsourcing) để làm payroll. Nhân viên chỉ được một số tiền bồi thường nho nhỏ để tìm việc khác chứ không có chế độ lương hưu non như Canada chúng tôi. Thật là 1 chế độ bóc lột tư bản. Số phần anh lúc nào cũng kém may mắn…

Kể từ đó anh làm công cho người ta như lo việc buôn bán trong các hội chợ Foire alimentaire bên Âu châu, có tuần có việc và nhiều tuần không có việc. Vì thế anh có dư nhiều thì giờ trong vài chục năm nên anh nghiên cứu những đề tài khoa học khác thường như cách chơi chứng khoán bằng xác suất thống kê, cách chế biến thảo mộc thành thuốc rửa miệng (rinse-mouth), đông trùng hạ thảo, sự hình thành của nhân loại, v.v….rồi lấy thì giờ phiên dịch mấy tài liệu nghiên cứu sang tiếng Anh.

Anh hay gọi điện cho tôi để bàn bạc tìm cách bán những nghiên cứu khoa học của anh cho những hiệu sách trên thế giới. Đa số các nhà sách từ chối, họ bảo anh phải làm cầu chứng tại tòa và việc này sẽ rất ư tốn kém. Anh nói với họ là chỉ muốn bán bản quyền mà thôi. Anh vẫn tiếp tục nghiên cứu những đề tài khoa khác và hình như không bán được 1 bản quyền nào cả và anh vẫn tiếp tục làm part-time cho người ta để lo kế sinh nhai hằng ngày. 

Năm 2018 anh em chúng tôi và cả anh nữa sang Cali ăn tết, chúng tôi có dịp gặp lại vài thầy cô và bạn bè HD. Lúc ấy anh biết được chị Hồng có gia đình và đang ở San Francisco. Anh liên lạc bằng điện thoại với cô Hồng và ngày hôm sau chuẩn bị bắt xe bus đi SF để thăm chị. Tôi khuyên anh không nên đi vì như thế anh sẽ làm phiền toái gia đình chị Hồng. Chị Hồng điện cho anh tối hôm đó nói rằng chưa tiện tiếp anh nên anh không đi SF nữa. Anh thì thầm với tôi “khi mình một ai thì mình thương họ suốt cả cuộc đời”. Không ngờ anh còn si tình đến thế. Tôi biết là anh còn luyến tiếc cô bạn gái lắm nhưng giờ đây ai cũng có gia đình không nên làm xáo trộn cuộc sống riêng của nhau mà hãy xem như 1 tình bạn tri kỷ… Anh không kể với ai chuyện đoái hoài cô bạn gái và giấu cả chuyện gia đình anh. Cô NA khóa 68-75 có cùng nhận xét tương tự như tôi trong bài viết ngắn gần đây của cô “Một bông hồng cho anh…”

Đã từ lâu tôi chưa thấy anh cười vui vẻ như lúc còn bé ở VN ngày xưa. Mỗi lần nói chuyện qua điện thoại, anh đều thăm hỏi cuộc sống của từng đứa em, bạn bè cùng lớp nhưng ít khi hay không khi nào anh đá động về chuyện gia đình anh.

         Anh thân yêu của chúng tôi đã không còn nữa, nhưng những kỷ niệm êm đẹp với người vần còn mãi trong lòng anh em chúng tôi. Anh tôi tính tình rất hiền hòa, bao dung, thương yêu mọi người không thù hằn ghen ghét ai trong cuộc sống, mặc dù tôi biết rất thiếu thốn đủ mọi mặt từ tình cảm đến vật chất nhưng dễ mến, đối xử tốt với em út, bạn bè và hàng xóm, thương yêu con cái và vợ mình.

Thật đau lòng khi đường đời anh tôi quá ngắn nên đã không thể đi bên cạnh cuộc đời chúng tôi lâu hơn. 

Sắp đến giờ thiêu xác anh tôi (5 giờ ngày 13 tháng 2 năm 2025), tôi ghi lại những kỷ niệm êm đẹp của một thời anh để lại như một nén hương lòng thắp lên để tưởng nhớ đến anh. 

Anh Hai ơi cuối cùng rồi 2 đứa con mà anh thương yêu nhất cũng đã về thăm anh lần cuối cùng và đang mang nắm tro tàn của anh về chùa để thờ phụng. Xin anh hãy thanh thản ra đi và quên cuộc đời khó khổ này.

Cầu xin linh hồn Minh Hiếu được yên nghỉ ngàn đời nơi thanh nhẹ… Mong rằng ở nơi bình yên ấy anh sẽ không còn bận bịu cuộc sống vô thường dưới trần gian.

Một hoa hồng tưởng nhớ anh …


Nguyễn Hồng Phúc 

Edited by Nguyễn Thị Tuyết 


CHÀO MỪNG QUÝ THẦY CÔ VÀ ĐỒNG MÔN TRƯỜNG HOÀNG DIỆU SÓC TRĂNG THAM QUAN, ỦNG HỘ HOANGDIEUTRUONGXUASAIGON.BLOGSPOT.COM. CHÚC THẦY CÔ VÀ ANH CHỊ EM NHIỀU SỨC KHỎE, THÀNH CÔNG TRONG CÔNG VIỆC.