.

.

a

Hoa đào nở, chim én về, mùa xuân lại đến. Chúc quý thầy cô và anh chị em đồng môn năm mới Bính Ngọ 2026 : - nghìn sự như ý, vạn sự như mơ, triệu sự bất ngờ, tỷ lần hạnh phúc.
THƯƠNG CHÚC THẦY CÔ, ANH CHỊ EM ĐỒNG MÔN TRƯỜNG HOÀNG DIỆU - MỘT NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026 AN KHANG THỊNH VƯỢNG - VẠN SỰ NHƯ Ý

19 tháng 7 2026

VỀ NĂM HÌNH THÀNH TRẤN GIANG - CẦN THƠ: NẾU SÁCH GỐC MÀ SAI…

 


VỀ NĂM HÌNH THÀNH TRẤN GIANG - CẦN THƠ: NẾU SÁCH GỐC MÀ SAI…
Địa chí tỉnh Cần Thơ (2002), cuốn sách có thể coi là loại tài liệu căn bản để tra cứu, đã có sai sót về năm hình thành tên gọi Trấn Giang - tiền thân của vùng Cần Thơ. Từ sai sót này, vô số bài báo, bài nghiên cứu đã tiếp tục dẫn dụng sai trong hơn 20 năm qua, nên nếu không sửa chữa kịp thời, "tin giả" sẽ sớm thành tin y như thiệt rồi.
Đây còn thuộc dạng tin giả chính thống, cho nên mức độ lan tỏa cũng rất chính thống, tiêu biểu như báo Nông Nghiệp, VNExpress, Cổng thông tin điện tử thành phố Cần Thơ, tạp chí Khoa học Trường đại học Cần Thơ (2021). Và đương nhiên, trang Wikipedia cũng sử dụng tin giả này.
Cụ thể, Địa chí tỉnh Cần Thơ viết: "Năm 1739, ông [Mạc Thiên Tích / Tứ] đã hoàn thành việc khai mở đất này và lập thêm 4 vùng đất mới mà "Gia Định thành thông chí" gọi là "đạo" gồm: Long Xuyên (Cà Mau), Kiên Giang (Rạch Giá), Trấn Giang (Cần Thơ), Trấn Di (Bắc Bạc Liêu), để sáp nhập vào Hà Tiên".
Đoạn văn đó dễ khiến người đọc hiểu là thông tin ấy lấy sử liệu từ sách Gia Định thành thông chí 1820 (GĐTTC). Nhưng nếu chịu khó tra cứu thì thấy đó là tin chế biến, gắn tên sách GĐTTC vô cho ra vẻ nói có sách, nói cách khác thì đây là trường hợp lắp ráp các nguồn sử liệu có chủ ý.
🎯 SỬ SÁCH CHÉP GÌ?
Trong sử kiện hậu loạn Cao Miên năm Đinh sửu (1757), GĐTTC viết: "Nặc Ông Ton dâng đất 5 phủ Chân Sum, Sài Mạt, Linh Quỳnh, Cần Bột, Vũng Thơm cho Tông Đức hầu để tạ ơn nuôi nấng gầy dựng. Tông Đức hầu xin dâng đất ấy cho triều đình, được chỉ chuẩn cho 5 phủ ấy vẫn thuộc trấn Hà Tiên cai quản. Tông Đức hầu lại đặt đạo Kiên Giang ở xứ Rạch Giá, đạo Long Xuyên ở xứ Cà Mau, đều đặt quan lại trấn nhậm".
Nội dung này được GĐTTC đề cập hai lần, gần giống nhau, đều thuộc quyển 3, trước là trong phần "Tổng quan về Cương vực Gia Định thành", sau là trong phần nói riêng về "Cương vực Hà Tiên trấn". Cả hai lần đều không nói về việc lập đạo Trấn Giang và đạo Trấn Di (tiền danh của Trần Đề).
Đại Nam thực lục Tiền biên (soạn xong năm 1844) cũng ghi lại sự kiện năm Đinh sửu (1757) gần giống như GĐTTC chép, tức chỉ nói "Thiên Tứ lại xin đặt Giá Khê làm đạo Kiên Giang, Cà Mau làm đạo Long Xuyên", không hề chép việc lập 2 đạo Trấn Giang và Trấn Di.
Việc lập đạo Trấn Di và đạo Trấn Giang vào năm 1757 chỉ thấy đề cập trong Mạc Thị gia phả 1818 (MTGP), sách này chép một sự kiện gần như tương đồng diễn biến với nội dung mà GĐTTC và ĐNTL đã chép, nhưng MTGP không nói rõ là trong năm nào, đối chiếu thì thấy trùng với sự kiện diễn ra vào năm 1757 chép trong GĐTTC và ĐNTL.
Có điều, MTGP chép khác so với hai nguồn kia, là số xứ cai quản có thêm Trấn Giang và Trấn Di. Sách này chép: "Vua Cao Miên Chiêu Ong Tôn […] cắt đất năm châu để tạ ơn cho ông [Mạc Thiên Tứ, cũng có sách chép Mạc Thiên Tích]. Năm châu gồm Vịnh Thơm, Cần Bột, Chơn Sum, Sài Mạt và Ninh Quỳnh. Ông lại khai phá những vùng đất hoang của Cao Miên là các xứ Long Xuyên, Kiên Giang, Trấn Giang, Trấn Di làm thành thuộc ấp, đặt chức việc cai quản".
Đoạn văn trên nói "Ông lại khai phá các xứ…", tức phải hiểu là sau năm 1757 mới khai phá, còn thời gian khai phá bao lâu đối với xứ nào thì không xác định cụ thể được. Nên nếu dựa vào sử liệu này, phải nói rõ "đạo Trấn Giang hình thành sau năm 1757".
Ngoài việc lập đạo Trấn Giang, cũng cần lưu ý là các nguồn sử liệu có nhiều điểm hơi đáng ngờ về năm khai thác các vùng đất liên đới địa bàn Hà Tiên, như trong GĐTTC và ĐNTL thì nói Cần Bột (Kampot), Vũng Thơm (Kompong Som), Rạch Giá, Cà Mau là 4 xứ trong 6 xứ (Phú Quốc, Lũng Kỳ, Cần Bột, Vũng Thơm, Rạch Giá, Cà Mau) do Mạc Cửu lập hồi trước năm Mậu tý (1708); còn MTGP thì chép 2 châu Cần Bột, Vũng Thơm nằm trong 5 châu mà Mạc Thiên Tích được hiến năm 1757, và Long Xuyên (tức Cà Mau), Kiên Giang (tức Rạch Giá) lại nằm trong số vùng mới khai thác sau năm 1757. Cho nên, đối với việc áp dụng hình thức quản lý các xứ nêu trên đều phải qua kê cứu đối chiếu nhiều nguồn sử liệu thì mới có thể tạm xác định.
Trong các nguồn nêu trên, về sự kiện "lập đạo Trấn Giang sau năm 1757" thì một nguồn chính sử là ĐNTL không chép, một nguồn địa chí vùng là GĐTTC cũng không chép, chỉ riêng nguồn gia phả có nói đến việc lập đạo Trấn Giang sau năm 1757.
Tạm coi như Trấn Giang xứ được nói đến đầu tiên vào năm Đinh sửu (1757), và cũng lưu ý rằng, vào năm này MTGP chỉ gọi Trấn Giang là xứ, và đặt xứ này làm "thuộc ấp", chưa gọi là đạo. Sách này đề cập đến Trấn Giang với cơ cấu là đạo vào năm 1774.
Trong ba nguồn sử liệu nêu trên đây, MTGP thành sách năm 1818, GĐTTC thành sách năm 1820, ĐNTL thành sách năm 1844. Căn cứ theo MTGP, thì Mạc Cửu chưa từng lập 6 xứ Phú Quốc, Lũng Kỳ, Cần Bột, Vũng Thơm, Rạch Giá, Cà Mau hồi trước năm Mậu tý (1708), mà một số trong các vùng đất này phải đến đời Mạc Thiên Tích mới có được do được hiến tặng năm 1757. Nếu cho rằng MTGP ra đời sớm hơn và do người địa phương lại có quan hệ thân thuộc với họ Mạc ghi chép nên đáng tin hơn, thì lịch sử Hà Tiên ắt phải viết lại nhiều lắm.
🎯 MỘT NIÊN ĐẠI KHÔNG BIẾT Ở ĐÂU RA
Vấn đề là niên điểm 1739 từ đâu ra? Trong các nguồn sử liệu, chỉ thấy ĐNTL chép: "Kỷ mùi (1739), tháng giêng, Nặc Bồn nước Chơn Lạp lấn Hà Tiên […], Thiên Tứ đem hết quân bản bộ ra đánh, đuổi tới Sài Mạt. Tin thắng trận báo lên, chúa khen ngợi, đặc ban Thiên Tứ chức Đô thống tướng quân". MTGP cũng có chép việc này, nhưng chỉ viết "Hồi Cao Miên gây loạn…" chớ không ghi năm nào. GĐTTC tuy chép khá chi tiết về tình hình trấn Hà Tiên nhưng không chép về sự kiện này.
Củng cố "tin giả" Trấn Giang 1739, có thể nêu là bài viết "Bàn về nguồn gốc và ý nghĩa của địa danh Cần Thơ" của tác giả Đào Ngọc Cảnh (tạp chí Khoa học Trường đại học Cần Thơ, tập 57, số 3C/2021).
Trong bài có đoạn viết: "Năm Ất Mão (1735), Mạc Cửu qua đời, Mạc Thiên Tích nối nghiệp cha tổ chức khai phá mở mang thêm ở vùng hữu ngạn sông Hậu. Đến năm Kỷ Mùi (1739), công cuộc khai phá hoàn thành, Mạc Thiên Tích cho lập thành bốn đạo, đều thuộc trấn Hà Tiên. Đó là: đạo Long Xuyên (vùng Cà Mau), đạo Kiên Giang (vùng Rạch Giá), đạo Trấn Di (vùng bắc Bạc Liêu), và đạo Trấn Giang (vùng Cần Thơ). Tại đạo Trấn Giang, Mạc Thiên Tích cho lập thủ sở bên bờ sông Hậu. Từ đó, thủ sở đạo Trấn Giang đóng vai trò hậu thuẫn cho Hà Tiên, được chú trọng phát triển trên mọi lĩnh vực quân sự, kinh tế - thương mại và văn hóa (Quốc sử quán triều Nguyễn, 1972; Trịnh Hoài Đức, 2006)".
Trước mắt cần nói, đây là đoạn văn viết lắp ráp sử liệu không chính xác, đoạn văn đã không dẫn nguồn Địa chí tỉnh Cần Thơ, chỉ dẫn nguồn ĐNTL và GĐTTC như thể tác giả đọc trực tiếp từ sử liệu xưa rồi viết ra, nhưng đối với niên điểm 1739 được nêu thì 2 nguồn này không chép điều gì liên quan đến tên gọi Trấn Giang cả.
Tin giả lan truyền trên mạng xã hội gây tác hại không nhỏ, còn loại tin giả trong nghiên cứu lịch sử cũng rất điên đầu chớ không phải giỡn. Loại tin nói về khởi nguyên hình thành vùng đất dạng như Trấn Giang hẳn đã lan tỏa qua biết bao cuộc hội thảo khoa học, đi vào sách vở và phóng sự báo đài các thứ.
Hồi soạn bộ Địa chí tỉnh Cần Thơ (2002) thì tỉnh này chưa tách tỉnh Hậu Giang, nên tin giả nêu trên cũng phần nào ảnh hưởng đến tỉnh Hậu Giang khi biên soạn địa chí và lịch sử địa phương. Nghe nói Địa chí Thành phố Cần Thơ đã hoàn thành và sẽ xuất bản trong khoảng tháng 5 năm nay, chắc cũng còn kịp điều chỉnh một số chỗ sai sót.
Lịch sử biên niên ghi nhận sự kiện 1739 không thuộc sử kiện đặc biệt quan trọng; tin quan trọng hơn có thể nêu là "năm Bính thìn (1736), lấy Mạc Thiên Tứ làm Đô đốc trấn Hà Tiên" (kế nhiệm Mạc Cửu, nhậm Tổng binh năm 1708, mất năm 1735). Cuối cùng, sử kiện 1739 trong các nguồn sử liệu đều không chép gì liên quan đến tên gọi hay địa bàn Trấn Giang, nên thiệt tình, không hiểu vì sao năm 1739 này được lấy làm mốc niên điểm thành lập đạo Trấn Giang.
Tác giả: PHẠM HOÀNG QUÂN

Sau 1 triệu năm nữa, động vật trên Trái Đất sẽ trông như thế nào?

Không ai có thể biết chính xác tương lai của sự sống, nhưng khoa học tiến hóa cho phép chúng ta hình dung xu hướng có thể định hình động vật một triệu năm tới.

Trên thang thời gian tiến hóa, một triệu năm là khoảng thời gian đủ để nhiều loài thay đổi đáng kể. Tổ tiên của voi ma mút, sói hay con người ngày nay đều khác biệt rõ rệt so với hậu duệ của chúng chỉ sau vài trăm nghìn đến một triệu năm. Tuy nhiên, hướng tiến hóa của các loài không hề được định sẵn mà phụ thuộc vào môi trường sống, khí hậu, nguồn thức ăn và cả tác động của con người.


Ảnh: eldefinido

Nếu xu hướng nóng lên toàn cầu tiếp tục, nhiều loài có thể phát triển các đặc điểm giúp tản nhiệt hiệu quả hơn. Theo quy luật sinh thái học đã được quan sát ở nhiều nhóm động vật, cơ thể nhỏ hơn, tai lớn hơn hoặc chân dài hơn có thể trở nên phổ biến tại những vùng khí hậu nóng. Ngược lại, các loài sống ở vùng cực sẽ phải thích nghi với môi trường ngày càng ít băng hoặc di cư đến những khu vực lạnh hơn.

Ảnh: deviantart

Các thành phố cũng đang trở thành "động lực tiến hóa" mới. Nhiều loài chim, chuột, côn trùng và cáo đã thích nghi với môi trường đô thị bằng cách thay đổi tập tính, chế độ ăn và thậm chí cả hình thái. Sau một triệu năm, nếu các đô thị vẫn tồn tại, rất có thể sẽ xuất hiện những quần thể động vật gần như chỉ sống trong môi trường nhân tạo, với khả năng tận dụng ánh sáng, tiếng ồn và nguồn thức ăn do con người tạo ra.


Ảnh: ielts

Ở đại dương, quá trình axit hóa và nhiệt độ nước tăng có thể tạo áp lực mạnh lên các loài sinh vật biển. Những loài có khả năng chịu nhiệt tốt hoặc sinh sản nhanh sẽ có lợi thế hơn, trong khi nhiều rạn san hô và các sinh vật phụ thuộc vào chúng có thể biến mất hoặc thay đổi hoàn toàn.

Một xu hướng khác là sự tiến hóa ngày càng nhanh dưới tác động của con người. Việc sử dụng thuốc trừ sâu, kháng sinh hay hoạt động săn bắt đã tạo ra áp lực chọn lọc mạnh, khiến nhiều quần thể thay đổi chỉ sau vài chục thế hệ. Trong một triệu năm, những áp lực này có thể tạo ra các loài hoàn toàn mới nếu chúng tồn tại đủ lâu và bị cách ly về sinh sản.

Tuy nhiên, cũng cần nhớ rằng tiến hóa không có "mục tiêu" tạo ra những sinh vật thông minh hơn hay lớn hơn. Những đặc điểm được giữ lại đơn giản là vì chúng giúp cá thể sinh tồn và sinh sản hiệu quả hơn trong môi trường cụ thể. Nếu môi trường thay đổi theo hướng khác, quá trình tiến hóa cũng sẽ rẽ sang những con đường hoàn toàn khác.

Vì vậy, bức tranh về động vật sau một triệu năm không phải là thế giới của những "quái thú tương lai", mà là kết quả của vô số biến đổi nhỏ tích lũy qua hàng trăm nghìn thế hệ. Điều chắc chắn nhất là sự sống sẽ tiếp tục thích nghi, và nhiều loài trong tương lai có thể sẽ khác xa những gì chúng ta đang thấy ngày nay.

Thanh Bình Tổng hợp

Cần thủ câu được cá chép đầu to nặng gần 54kg, tự phá kỷ lục của chính mình

Một hướng dẫn viên câu cá tại bang Oklahoma (Mỹ) vừa bắt được con cá chép đầu to nặng khoảng 53,8kg và dài gần 1,5m tại hồ Grand Lake. Thành tích này vượt qua kỷ lục mà chính anh từng lập tại cùng địa điểm cách đây hai năm.

Hướng dẫn viên câu cá Bryan Baker, đến từ bang Oklahoma (Mỹ), vừa tự phá kỷ lục của chính mình khi bắt được một con cá chép đầu to nặng 118 pound 10 ounce (khoảng 53,8kg) tại hồ Grand Lake. Trước đó hai năm, cũng tại khu vực này, anh từng câu được một con nặng 118 pound 3 ounce.

Baker vốn chủ yếu săn cá tầm mũi chèo, nhưng khi điều kiện thuận lợi, anh sẽ chuyển sang tìm cá chép đầu to - loài cá xâm lấn xuất hiện tại hồ. Để xác định vị trí của chúng, anh sử dụng thiết bị sonar hướng về phía trước nhằm dò tìm những cá thể đang bơi ở vùng nước sâu và tối.


Cần thủ câu được cá chép đầu to nặng gần 54kg, tự phá kỷ lục của chính mình. Ảnh: Wired2fish

Khi phát hiện một con cá dài gần 1,5m, Baker quyết định sử dụng kỹ thuật snagging để đưa nó lên bờ. Đây là phương pháp móc lưỡi câu trực tiếp vào thân cá thay vì chờ cá đớp mồi và hiện được khuyến khích trong việc loại bỏ loài cá xâm lấn này.

Với trọng lượng gần 54kg, con cá vừa bắt được được cho là cá chép đầu to lớn nhất từng được câu bằng cần. Tuy nhiên, thành tích của Baker vẫn không đủ điều kiện để được Hiệp hội Câu cá Thể thao Quốc tế (International Game Fish Association - IGFA) công nhận là kỷ lục thế giới.

Lý do là bởi kỹ thuật snagging không được IGFA xem là phương pháp câu cá thông thường trong hệ thống xác lập kỷ lục của tổ chức.

Theo Baker, anh thường xuyên phát hiện những con cá chép đầu to có kích thước lớn tại một khu vực nhỏ của hồ Grand Lake, gần thành phố Miami, bang Oklahoma. Chúng thường xuất hiện ở độ sâu khoảng 20 feet (gần 6m) hoặc nông hơn.

Sau khi được đưa lên bờ, những con cá này không bị bỏ đi mà được chuyển cho các nhà sinh vật học của bang phục vụ công tác nghiên cứu. Các chuyên gia sẽ phân tích xương tai để xác định tuổi và vòng đời của cá, từ đó bổ sung dữ liệu cho các nghiên cứu nghề cá cũng như hỗ trợ hoạt động quản lý loài xâm lấn trong khu vực.

Phương Anh (Theo Wired2fish)


Năm 1929, một bác sĩ trẻ người Đức đã luồn một ống dài 65 cm qua tĩnh mạch ở cánh tay mình rồi đưa thẳng vào tim, sau đó bình thản đi bộ đến phòng chụp X-quang để chứng minh rằng anh vẫn còn sống. Thí nghiệm ấy cuối cùng đã mang về cho anh một giải Nobel.

Fb Hoàng Phương Phúc
Tên ông là Werner Forssmann.
Khi đó ông mới 25 tuổi, là bác sĩ nội trú ngoại khoa đang hoàn tất chương trình đào tạo tại một bệnh viện nhỏ bên ngoài Berlin.
Năm 1929, mọi bác sĩ đều tin vào cùng một điều về trái tim con người.
Chỉ cần chạm vào tim bằng bất kỳ vật lạ nào, dù là kim hay dây dẫn, tim sẽ lập tức ngừng đập. Các bác sĩ phẫu thuật vẫn mổ dạ dày, xương hay phổi.
Nhưng không ai dám động đến tim, vì người ta cho rằng bất cứ vật gì đi vào tim đều sẽ gây ngừng tim ngay lập tức.
Forssmann đọc được một số nghiên cứu khiến ông nghi ngờ điều đó. Nhiều thập kỷ trước, nhà sinh lý học người Pháp Claude Bernard từng đưa một ống thủy tinh qua tĩnh mạch cổ của một con ngựa vào tận tim để đo nhiệt độ. Con ngựa vẫn sống.
Hai nhà nghiên cứu người Pháp khác tiếp tục lặp lại thí nghiệm này, thậm chí còn đo được áp lực bên trong tim của con ngựa khi nó vẫn đứng và hô hấp bình thường.
Nếu làm được trên ngựa, Forssmann cho rằng chẳng có lý do gì lại không thể làm trên con người.
Ông muốn sử dụng kỹ thuật này để đưa thuốc trực tiếp vào trái tim đang suy yếu thay vì phải chờ thuốc tiêm theo dòng máu lưu thông đến đó.
Ông xin phép người giám sát của mình, bác sĩ Schneider, được thử nghiệm trên một bệnh nhân.
Schneider từ chối.
Quá nguy hiểm. Quá kỳ quặc. Không thể chấp nhận.
Vì thế, Forssmann quyết định thử trên chính mình.
Ông cần vào phòng dụng cụ nên nhờ một y tá tên Gerda Ditzen giúp đỡ. Cô đồng ý, nhưng với một điều kiện: ông phải hứa sẽ tiến hành thí nghiệm trên cô chứ không phải trên bản thân.
Ông đã nói dối.
Ông buộc cô lên bàn mổ, gây tê cánh tay cô và giả vờ chuẩn bị rạch da.
Trong lúc Ditzen tin rằng mình là người được thí nghiệm, Forssmann lặng lẽ gây tê chính cánh tay mình rồi rạch mở một tĩnh mạch ở mặt trong khuỷu tay.
Khi Ditzen nhận ra chuyện gì đang xảy ra thì đã quá muộn.
Chiếc ống thông – thực chất chỉ là một ống cao su mỏng vốn được thiết kế để dẫn lưu nước tiểu từ bàng quang – đã được đưa vào cơ thể ông.
Forssmann tự luồn ống từng chút một, quan sát nó biến mất dần trong cánh tay, vừa làm vừa ước lượng khoảng cách dựa trên kiến thức giải phẫu học đã học thuộc.
Sau đó ông bảo Ditzen gọi phòng X-quang.
Hai người cùng đi bộ đến đó, trong khi bên trong mạch máu của Forssmann vẫn có tới 65 cm ống thông. Trên đường, họ còn phải leo lên một cầu thang.
Dưới máy soi huỳnh quang, ông tiếp tục đẩy ống thông sâu hơn, vừa quan sát vị trí của nó thông qua chiếc gương mà một y tá giơ trước màn hình.
Chiếc ống đi qua vai, xuống lồng ngực rồi dừng lại trong chính trái tim của ông, tại tâm nhĩ phải.
Bức phim X-quang chụp ngày hôm đó trở thành bức ảnh đầu tiên trong lịch sử ghi lại một vật thể lạ nằm bên trong trái tim của một con người còn sống.
Và người xuất hiện trong bức ảnh cũng chính là người đã tự đưa chiếc ống ấy vào tim mình.
Schneider phát hiện ra và nổi giận.
Ông chỉ trích Forssmann đã coi thường mạng sống của chính mình một cách liều lĩnh.
Nhưng khi xem tấm phim X-quang, cơn giận dần biến thành sự kinh ngạc.
Schneider cho phép Forssmann thử lại, lần này trên một bệnh nhân đang hấp hối, bằng cách đưa thuốc trực tiếp vào tim.
Tình trạng của bệnh nhân đã cải thiện.
Forssmann công bố kết quả vào tháng 11 năm đó.
Ông nghĩ nghiên cứu này sẽ mở ra cánh cửa cho sự nghiệp.
Thực tế, nó gần như chấm dứt sự nghiệp của ông.
Ông nhận một vị trí không lương tại Berlin dưới quyền Ferdinand Sauerbruch, một trong những bác sĩ phẫu thuật nổi tiếng nhất nước Đức.
Ngay khi đọc những gì Forssmann đã làm với chính mình, Sauerbruch lập tức loại ông khỏi bệnh viện, cho rằng hành động ấy không xứng đáng với một cơ sở y khoa nghiêm túc.
Forssmann bị đẩy hoàn toàn ra khỏi lĩnh vực tim mạch.
Hai mươi năm tiếp theo, ông làm bác sĩ tiết niệu tại thị trấn nhỏ Bad Kreuznach, cách xa thế giới nghiên cứu mà chính mình từng mở ra, và gần như bị ngành y lãng quên.
Tuy nhiên, hai bác sĩ ở New York thì không quên ông.
André Cournand và Dickinson Richards, làm việc tại Bệnh viện Bellevue thuộc Đại học Columbia, đã đọc bài báo của Forssmann nhiều năm sau đó.
Họ xây dựng cả một chương trình nghiên cứu dựa trên ý tưởng ấy, sử dụng ống thông để đi vào tim bệnh nhân nhằm đo lưu lượng máu và chẩn đoán bệnh theo cách chưa từng có ai thực hiện khi trái tim vẫn đang đập trong cơ thể người sống.
Mỗi lần công bố kết quả nghiên cứu, Cournand đều mở đầu bằng lời ghi nhận người bác sĩ Đức đã làm điều đó trước tiên, một mình, không được cấp phép và cũng chẳng có bất kỳ phương án dự phòng nào.
Năm 1956, Ủy ban Nobel tại Stockholm công bố Giải Nobel Sinh lý học hoặc Y học.
Giải thưởng được trao cho ba người:
André Cournand
Dickinson Richards
Werner Forssmann
Khi ấy, Forssmann đã không còn cầm đến một chiếc ống thông nào trong hơn hai mươi năm.
Ông chỉ là một bác sĩ tiết niệu ở một thị trấn nhỏ, hoàn toàn đứng ngoài thế giới nghiên cứu tim mạch.
Thông báo ấy khiến gần như tất cả mọi người bất ngờ.
Ngay cả chính Forssmann.
Kỹ thuật mà ông bí mật tạo ra, bằng cách lừa một y tá và sử dụng một chiếc ống vốn dành cho bàng quang, ngày nay vẫn là nền tảng của các thủ thuật tim mạch hiện đại.
Mỗi lần bác sĩ luồn ống thông qua động mạch để thông mạch bị tắc, đặt stent hay sửa van tim mà không cần mở lồng ngực, họ đều đang sử dụng chính nguyên lý ấy.
Mọi ca thông tim được thực hiện trên thế giới ngày nay đều có thể lần ngược về một buổi chiều ở thị trấn Eberswalde, khi một bác sĩ nội trú 25 tuổi quyết định rằng cách tốt nhất để chứng minh một ý tưởng là đúng chính là đưa nó vào cơ thể mình, rồi bình thản bước lên một cầu thang để xem liệu mình có còn sống hay không.

Sưu tầm


CHÀO MỪNG QUÝ THẦY CÔ VÀ ĐỒNG MÔN TRƯỜNG HOÀNG DIỆU SÓC TRĂNG THAM QUAN, ỦNG HỘ HOANGDIEUTRUONGXUASAIGON.BLOGSPOT.COM. CHÚC THẦY CÔ VÀ ANH CHỊ EM NHIỀU SỨC KHỎE, THÀNH CÔNG TRONG CÔNG VIỆC.