Ông qua đời một mình trong phòng khách sạn với chỉ 33 xu trong túi,người đàn ông từng thắp sáng cả thế giới.
Ngày 7 tháng 1 năm 1943. Phòng 3327, Khách sạn New Yorker, Manhattan.
Người hầu gõ cửa lần thứ ba trong ba ngày liên tiếp. Không ai trả lời. Cô dùng chìa khóa và bước vào. Trên giường, Nikola Tesla nằm đó 86 tuổi, một mình, và đã ra đi.
Người đã khai thác sức mạnh của thác Niagara. Nhà phát minh với hệ thống dòng điện xoay chiều, cung cấp năng lượng cho các ngôi nhà đến tận hôm nay. Nhà tiên tri đã tưởng tượng ra truyền thông không dây, điều khiển từ xa, và những công nghệ mà thời đại ông coi là phép màu.
Nhưng Tesla đã ra đi gần như không còn gì. Không gia đình. Không tài sản. Chỉ còn một căn phòng đầy giấy tờ, những con chim bồ câu ông nuôi từ cửa sổ, và những ký ức về một cuộc đời theo đuổi những giấc mơ mà thế giới chưa sẵn sàng.
Nguyên nhân chính thức là tắc mạch vành tim. Nhưng có lẽ cũng là một trái tim tan vỡ. Trong thập kỷ cuối đời, Tesla chứng kiến người khác nhận công cho những phát minh của mình. Thế giới ca ngợi công trình của người khác, trong khi đóng góp của ông bị lãng quên hoặc đánh cắp.
Tesla đến Mỹ năm 1884 với chỉ bốn xu trong túi, một cuốn sách thơ, và những ý tưởng sẽ thay đổi thế giới. Chỉ vài năm sau, ông đã cách mạng hóa kỹ thuật điện, chiến thắng hệ thống dòng điện một chiều của Thomas Edison bằng hệ thống dòng điện xoay chiều đa pha, đưa điện năng đến hàng triệu người.
Ông phát minh cuộn Tesla, tiên phong công nghệ radio, và mơ về năng lượng không dây cho tất cả mọi người. Nhưng những ý tưởng của ông thường đi trước thời đại. Các nhà đầu tư rút lui. JP Morgan cắt kinh phí dự án Wardenclyffe Tower, nơi được dự định truyền năng lượng không dây khắp thế giới.
Đến thập niên 1920, Tesla trở thành một “của lạ”. Một ông già lập dị sống trong những khách sạn mà ông không đủ khả năng trả tiền. Khách sạn New Yorker trở thành nhà ông trong thập kỷ cuối cùng, tiền thuê được Westinghouse Electric trả thay, tôn trọng tài năng của ông. Tesla dành cả ngày nuôi chim bồ câu, đặc biệt là một con bồ câu trắng mà ông gọi là “tình yêu”. Ông tiếp tục nghiên cứu về tia vũ trụ và “tia tử thần”, những phát minh có thể chấm dứt chiến tranh, nhưng không còn ai nghe ông nữa.
Trong bức ảnh cuối đời, vẫn có thể thấy sự sáng suốt trong ánh mắt ông. Cái nhìn sắc bén đã từng nhìn thấy tương lai, phong thái tráng lệ của một người biết giá trị của mình, bất chấp sự thờ ơ của thế giới.
Khi Tesla qua đời, thế giới đã nhớ đến ông.
Ngày 12 tháng 1 năm 1943, hơn 2.000 người tụ họp tại Nhà thờ Thánh John the Divine để tôn vinh nhà phát minh. Các nhà khoa học, kỹ sư và người dân bình thường lấp đầy nhà thờ khổng lồ để kỷ niệm cuộc đời và di sản của ông.
Tài năng của Tesla cuối cùng đã được công nhận, nhưng quá muộn để ông chứng kiến. Những phát minh của ông—động cơ AC, cuộn Tesla, truyền thông không dây đã thay đổi thế giới, ngay cả khi không ai thực sự hiểu giá trị của chúng khi ông còn sống.
Tesla ra đi gần như không còn gì, nhưng đã để lại mọi thứ. Mỗi lần bạn bật công tắc điện hay sạc điện thoại, bạn chạm vào di sản của ông. Người đàn ông chết một mình trong khách sạn đã kết nối cả thế giới.
Ngày nay, tên ông vẫn sống mãi. Nhưng sự thật vẫn còn đó: Thiên tài không phải lúc nào cũng được công nhận vào thời của họ. Đôi khi, những kẻ mơ mộng ra đi trước khi tầm nhìn của họ trở thành hiện thực.
Nhưng công trình của họ vẫn còn tồn tại.
Ngày 7 tháng 1 năm 1943, Nikola Tesla thở hơi cuối cùng. Nhưng dòng điện ông khởi xướng vẫn chảy qua mọi thứ, mãi mãi.
Cảm ơn ông, ông Tesla. Thế giới cuối cùng đã hiểu.![]()
Theo Caylus
My Lan Phạm
Borgund Stave Church ở Na Uy thường được nhắc đến bằng một chi tiết rất lạ: một nhà thờ gỗ hơn tám trăm năm tuổi vẫn đứng vững qua bao mùa đông khắc nghiệt, nhờ vào kỹ thuật ghép mộng và chốt gỗ tinh vi thay vì dựa vào đinh sắt trong phần kết cấu chính. Nhưng điều làm công trình này thật sự cuốn hút không nằm ở một mẩu thông tin gây tò mò, mà ở cách người xưa hiểu gỗ, hiểu khí hậu và dựng nên một kiến trúc sống cùng thiên nhiên thay vì chống lại nó.
Nhà thờ được xây vào khoảng cuối thế kỷ XII, thường được ghi nhận quanh năm 1180, tại Borgund, vùng Lærdal của Na Uy. Đây là một trong những stave church được bảo tồn tốt nhất còn lại của Bắc Âu. Từ bên ngoài, công trình hiện ra như một khối gỗ sẫm màu vươn lên giữa thung lũng xanh, mái chồng tầng cao nhọn, dày đặc những đường nét sắc gọn và mạnh mẽ. Nhìn từ xa đã thấy vẻ cổ xưa. Lại gần hơn, từng lớp mái, từng thanh gỗ, từng chi tiết chạm khắc bắt đầu kể câu chuyện về một thời đại mà tay nghề thủ công có thể biến vật liệu mộc mạc thành thứ trường tồn.
Tên gọi “stave church” xuất phát từ những cột gỗ đứng làm nên bộ khung chính của công trình. Khác với kiểu nhà thờ đá nơi tường gánh phần lớn tải trọng, ở đây kết cấu được hình thành từ hệ thống cột, dầm, khung và các mối nối bằng gỗ ghép với nhau rất chính xác. Người thợ mộc thời ấy không cố ép vật liệu theo ý mình. Họ hiểu gỗ sẽ co lại khi lạnh khô, nở ra khi ẩm, nên toàn bộ công trình được tạo ra để thích nghi với chuyển động tự nhiên ấy. Chính sự linh hoạt này mới là bí quyết giúp Borgund tồn tại lâu đến vậy.
Chất liệu cũng góp phần quyết định. Những công trình như Borgund thường sử dụng gỗ thông già, sinh trưởng chậm, thớ chắc và bền. Gỗ được lựa chọn kỹ, xử lý bằng kinh nghiệm truyền đời, rồi đặt trên nền nâng cao để tránh ẩm từ mặt đất. Mái dốc nhiều lớp giúp mưa và tuyết trượt xuống nhanh, hạn chế đọng nước. Những điều ấy nghe có vẻ giản dị, nhưng lại là cả một tri thức xây dựng rất sâu. Độ bền của Borgund không đến từ sự cầu kỳ phô bày, mà từ những quyết định âm thầm nhưng chính xác.
Một trong những chi tiết khiến Borgund khác biệt là các đầu rồng chạm trên mái. Nhà thờ là công trình Kitô giáo, nhưng trong hình dáng của nó vẫn còn đó hơi thở của truyền thống Bắc Âu cổ. Những đầu thú, những hình chạm mang sắc thái Norse khiến công trình vừa linh thiêng vừa huyền bí. Chúng gợi nhớ đến thời kỳ mà niềm tin mới chưa xóa hẳn ký ức cũ, mà chỉ lặng lẽ hòa vào nhau. Bởi vậy, Borgund không chỉ đẹp ở kỹ thuật, mà còn đẹp ở cách nó lưu giữ cả một lớp văn hóa chuyển tiếp trong lịch sử Scandinavia.
Bên trong nhà thờ, cảm giác càng đặc biệt hơn. Không gian tối, trầm, mộc và rất yên. Những cột gỗ sẫm màu nâng đỡ toàn bộ nội thất, tạo nên chiều sâu và nhịp điệu rất riêng. Ánh sáng lọt vào dè dặt, đủ để các bề mặt gỗ cũ hiện lên với vẻ mềm và sâu. Không gian ấy không cần quá nhiều trang trí mà vẫn có sức nặng. Có cảm giác như thời gian ở đây đi chậm hơn, và mọi thứ đều được giữ lại bằng sự im lặng.
Vì quá nổi tiếng, Borgund đôi khi bị tóm gọn bằng một câu dễ nhớ kiểu “nhà thờ không cần đinh mà vẫn tồn tại suốt tám trăm năm”. Câu ấy nghe hấp dẫn, nhưng chưa đủ. Điều đáng nói hơn là người xưa đã xây dựng với sự hiểu biết hiếm có về vật liệu, thời tiết và tuổi thọ công trình. Họ không tìm cách chế ngự thiên nhiên bằng sức mạnh, mà chọn cách đi cùng quy luật của nó. Có lẽ chính vì vậy mà Borgund vẫn đứng đó, không mang vẻ của một phế tích, mà như một cơ thể gỗ già nua nhưng vẫn còn nguyên thần thái.
Ngày nay, Borgund Stave Church là một trong những biểu tượng đẹp nhất của kiến trúc gỗ Trung Cổ châu Âu. Nó cho thấy một công trình có thể bền đến mức nào khi được tạo nên bằng tay nghề, sự kiên nhẫn và óc quan sát rất sâu đối với thế giới tự nhiên. Giữa vô số công trình hiện đại có thể gây choáng ngợp trong khoảnh khắc, Borgund đem lại một ấn tượng khác: lặng, bền, chắc và đẹp theo cách càng ngắm càng thấy thấm.
Pane e Vino - 3 Nguyễn Khắc Cần
Tòa án Nhân dân TP.HCM: Công trình hơn 140 năm giữa trung tâm Sài Gòn
Giữa trung tâm TP.HCM, trụ sở Tòa án Nhân dân TP.HCM mang vẻ cổ điển Pháp, lưu giữ dấu ấn hơn 140 năm lịch sử tư pháp và kiến trúc đô thị.
Trụ sở Tòa án Nhân dân TP.HCM qua 140 năm tồn tại
Tọa lạc trên khu đất 4 mặt tiền bao quanh bởi các tuyến đường Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Du, Nam Kỳ Khởi Nghĩa và Lý Tự Trọng, trụ sở Tòa án Nhân dân TP.HCM từ lâu đã trở thành một điểm nhấn kiến trúc giữa lòng thành phố. Công trình này được xem là một trong những di sản kiến trúc có giá trị của Sài Gòn - TP.HCM.
Sự hiện diện của Palais de Justice de Saigon (tên gọi thời Pháp thuộc) đánh dấu giai đoạn xác lập hệ thống tư pháp kiểu Tây phương tại Nam Kỳ, đồng thời phản ánh trình độ kỹ thuật và tư duy thẩm mỹ vượt thời đại của các kiến trúc sư người Pháp cuối thế kỷ 19.
Trụ sở Tòa án Nhân dân TP.HCM có lịch sử hơn 140 năm tồn tại
ẢNH: PHẠM HỮU
Với hơn 140 năm tồn tại, tòa nhà đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chính thức công nhận là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia vào năm 2012.
Lịch sử kiến trúc của trụ sở Tòa án Nhân dân TP.HCM bắt đầu từ những năm đầu thập kỷ 1880, khi chính quyền thực dân Pháp khởi công xây dựng công trình này vào năm 1881 và chính thức hoàn thành năm 1885.
Tòa nhà được thiết kế bởi kiến trúc sư Bourard, một người am tường về phong cách Tân Phục hưng vốn đang thịnh hành tại châu Âu lúc bấy giờ. Quá trình thi công được giám sát bởi kiến trúc sư Foulhoux, người giữ chức Giám đốc Sở Công chánh và là tác giả của nhiều công trình biểu tượng khác như Dinh Thượng Thơ hay Bưu điện Thành phố.
Thiết kế ban đầu của tòa nhà có hình chữ H (theo mẫu tự Latinh), một sơ đồ mặt bằng kinh điển cho các công sở lớn nhằm tối ưu hóa việc phân khu chức năng và lưu thông không khí. Cấu trúc này bao gồm hai tầng chính và một tầng hầm, với chiều cao mỗi tầng lên đến 5,2 m để tạo ra sự thông thoáng tuyệt đối trong môi trường nhiệt đới ẩm của Sài Gòn.
Tòa nhà được thiết kế bởi kiến trúc sư Bourard, một người am tường về phong cách Tân Phục hưng và được giám sát bởi kiến trúc sư Foulhoux, tác giả của nhiều công trình biểu tượng khác như Dinh Thượng Thơ hay Bưu điện Thành phố
ẢNH: PHẠM HỮU
Vật liệu xây dựng là một điểm nhấn đặc biệt thể hiện sự cầu kỳ và tính toán kỹ lưỡng của người Pháp. Hầu hết các loại gạch thẻ, ngói và các chi tiết kim loại đều được vận chuyển trực tiếp từ Pháp sang. Gạch được nung ở nhiệt độ rất cao, giúp giữ được độ bền vững gần như tuyệt đối sau hơn 140 năm. Thay vì xi măng hiện đại, các viên gạch được kết dính bằng hỗn hợp vôi, mật mía và các phụ liệu tự nhiên, tạo nên một kết cấu có khả năng đàn hồi và chịu lực cực tốt trước những biến động nhiệt độ và độ ẩm.
Sau Hiệp định Geneve năm 1954, Palais de Justice de Saigon được chính quyền Việt Nam Cộng hòa tiếp quản và đổi tên thành Tòa án Quốc gia. Trong giai đoạn này, cấu trúc nguyên thủy hình chữ H bắt đầu bộc lộ sự hạn chế về không gian trước áp lực gia tăng của lượng án và bộ máy nhân sự.
Vào những năm 1960, một tòa nhà mới được xây dựng thêm phía đường Nguyễn Trung Trực để mở rộng diện tích làm việc. Các kiến trúc sư thời bấy giờ đã rất tinh tế khi duy trì phong cách kiến trúc tương đồng với khối nhà cũ, đảm bảo tính thống nhất cho toàn bộ hệ thống công trình. Việc mở rộng này biến cấu trúc chữ H đơn giản ban đầu thành một tổ hợp kiến trúc phức tạp hơn nhưng vẫn giữ được sự uy nghiêm cần thiết của một cơ quan tư pháp.
Sau ngày 30.4.1975, chính quyền cách mạng tiếp quản toàn bộ hệ thống tòa án của chế độ cũ. Tháng 9.1976, Tòa án Nhân dân TP.HCM chính thức được thành lập.
Thiết kế ban đầu của tòa nhà có hình chữ H (theo mẫu tự Latinh), về sau được xây dựng thêm một tòa nhà nằm giáp đường Nguyễn Trung Trực
ẢNH: PHẠM HỮU
Từ Dinh Công lý đến Tòa án Nhân dân TP.HCM
Còn sách Kiến trúc Pháp - Đông Dương, dấu tích "Sài Gòn - Hòn ngọc Viễn Đông" mô tả chi tiết hơn về kiến trúc công trình tòa án này. Theo cuốn sách, trước kia tòa án độc lập với chính quyền, là một thiết chế chưa từng có ở Việt Nam thời phong kiến. Khi Pháp xâm chiếm Sài Gòn và Đông Dương, họ đã du nhập thiết chế này và tạo dựng những công trình kiến trúc biểu hiện cho quyền lực của công lý.
Một trong những kiến trúc đồ sộ điển hình là Palais de Justice - Dinh Pháp lý (hay còn gọi là Dinh Pháp lý, Tòa Pháp lý), đặt ở ngã tư Mac Mahon (Nam Kỳ Khởi Nghĩa) và La Grandière (Lý Tự Trọng).
Cổng vào của tòa án nằm giữa 2 nhà vuông kiểu dáng oai nghiêm là nơi tiếp nhận giấy tờ. Nổi bật ở cổng vào là 2 trụ to lớn và uy nghi, có nhiều họa tiết thiết kế trang trọng.
Khung cảnh tòa án nhìn từ tầng 1, phía góc trái
ẢNH: PHẠM HỮU
Trên đầu mỗi trụ là đầu tượng của 2 phụ nữ Pháp đội nón sắt theo kiểu vệ binh danh dự của nền Cộng hòa sau Cách mạng Pháp 1789. Bệ của 2 đầu tượng là trang sách mở ra, tượng trưng cho văn bản luật pháp. Dưới đó là phù điêu đầu sư tử - biểu tượng truyền thống của châu Âu về sự trung thành và quyền uy. Mỗi đầu sư tử ngậm dây treo tấm khiên có khắc chữ R và F lồng vào nhau (viết tắt của hai chữ République Français - Cộng hòa Pháp), kèm thanh gươm bắt chéo - hình ảnh của quốc huy Pháp thời ấy. Bốn cánh cửa sắt chạm trổ ở cổng vào là tác phẩm đúc tinh xảo với nhiều hoa văn trang trọng.
Sau cổng vào là một sân rộng dẫn đến một dãy nhà 2 tầng cao hơn 12 m, xếp hình các gian cũng như các ô cửa hành lang rất chỉn chu và cân đối nhằm biểu đạt sự công bằng, minh bạch.
Ở tầng dưới, hành lang bao quanh có các khung cửa lớn hình vòm cung, còn trên tầng lầu mỗi khung lại gồm 2 cặp trụ đỡ là cột cuốn thư thức Ionic mạnh mẽ. Trên vách tường mỗi đầu hồi hai cánh nhà có phù điêu theo chiều dọc thể hiện hình dây nguyệt quế treo với hình tượng chiếc cân nằm giữa là biểu tượng cho ngành tòa án.
Đặc biệt, ở mặt tiền trung tâm tầng hai, dưới mái nhà lợp ngói là trần nhà hình chữ A - kiến trúc truyền thống Hy Lạp. Tại đây thể hiện phù điêu hình tượng Nữ thần Công lý theo thần thoại Hy Lạp.
Hai chữ "Pháp - Đình" được chạm khắc trên cổng chính dẫn vào tòa nhà
ẢNH: PHẠM HỮU
Hai bên tượng Nữ thần có thêm tượng một người đàn ông và người đàn bà mặc trang phục Việt cổ truyền.
Tâng trệt tòa nhà là nơi đặt các phòng xử án rộng rãi với cửa vào và nội thất được thiết kế trọng thể. Ở tầng trệt, điểm nhấn trong không gian đại sảnh là 2 cầu thang lớn chạy song song dẫn lên tầng trên. Còn tầng trên là nơi đặt các phòng làm việc có kiểu cách trang trí tương tự.
Ở tầng trên, trước cửa 2 phòng lớn đối diện nhau có đặt các tượng Nữ thần Công lý cầm gươm bằng đá cẩm thạch đen. Trần nhà tầng trên có phù điêu trang nhả, được đỡ bởi các cột thức Corinth quý phái.
Cả tầng trên và tầng dưới tiếp tục có các phù điêu, họa tiết liên quan hình tượng thần Công lý cùng huy hiệu ngành tòa án và các hoa văn châu Âu quý phái trang trí ở hành lang và các cửa phòng. Tuy vậy, một số nơi có điểm xuyết các họa tiết bản địa như tàu lá chuối, cành cọ. Tầng hầm của tòa nhà cũng rất rộng lớn là nơi lưu trữ giấy tờ, kho tang vật, phòng thư ký.
Một trong các phòng xét xử ở tòa án
ẢNH: PHẠM HỮU
Dinh Pháp lý được xây dựng trong vùng quy hoạch là khu đầu não ở Sài Gòn, gần bên Dinh Thống đốc Nam Kỳ (nay là Bảo tàng Thành phố) và Khám lớn Sài Gòn (Thư viện Khoa học tổng hợp). Tòa án tại đây không chỉ phụ trách Sài Gòn mà còn phụ trách các loại án lớn của cả Nam kỳ. Về sau, nơi đây còn thực hiện nhiệm vụ là Tòa thượng thẩm Đông Dương.
Sau năm 1954, trụ sở Dinh Pháp lý được gọi là Pháp đình Sài Gòn, phụ trách công việc tòa án cho cả miền Nam. Vào những năm 1960, phía mặt đường Nguyễn Trung Trực, có thêm dãy nhà mới được kiến trúc sư Đồ Bá Vinh thiết kế với lối kiến trúc hài hòa với dãy nhà cũ.
Theo Thanh Niên



