.

.

a

Hoa đào nở, chim én về, mùa xuân lại đến. Chúc quý thầy cô và anh chị em đồng môn năm mới Bính Ngọ 2026 : - nghìn sự như ý, vạn sự như mơ, triệu sự bất ngờ, tỷ lần hạnh phúc.
THƯƠNG CHÚC THẦY CÔ, ANH CHỊ EM ĐỒNG MÔN TRƯỜNG HOÀNG DIỆU - MỘT NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026 AN KHANG THỊNH VƯỢNG - VẠN SỰ NHƯ Ý

05 tháng 6 2026

4 loại cá đáng lẽ phải BỊ CẤM từ lâu: Nhiều người vẫn vô tư ăn mỗi ngày!

 Cá giàu dinh dưỡng và tốt cho sức khỏe nên thường được khuyên thêm vào chế độ ăn uống hàng ngày. Tuy nhiên, 4 loại cá được kể tên dưới đây lại cần được lưu ý đặc biệt!

Các nghiên cứu đều ghi nhận cá là thực phẩm vàng nên có trong chế độ ăn uống hằng ngày nhờ nguồn đạm chất lượng cao, dễ tiêu hóa và ít chất béo bão hòa. Điểm đắt giá nhất của nhóm này là hàm lượng Omega-3, DHA và EPA dồi dào, giúp giảm mỡ máu, ổn định huyết áp và ngăn ngừa cục máu đông. Nhờ đó, thói quen ăn cá đều đặn giúp giảm tới 30% nguy cơ tử vong do đột quỵ và bảo vệ toàn diện hệ tim mạch.

Bên cạnh đó, các axit béo này còn là khối xây dựng tế bào thần kinh, giúp giảm 35% nguy cơ suy giảm nhận thức và tăng cường trí nhớ. Đặc biệt, đặc tính chống viêm mạnh mẽ của Omega-3 trong cá còn hỗ trợ phục hồi cấu trúc da, tiêu diệt các gốc tự do để làm chậm tiến trình lão hóa cơ thể một cách hiệu quả.

Tuy nhiên, cần nhớ rằng không phải loại cá nào cũng đáng ăn. Một số loại cá phổ biến ngoài chợ, ngoài quán ăn vặt… lại tiềm ẩn rủi ro sức khỏe nếu tiêu thụ thường xuyên, ăn lượng lớn trong một lần. Đặc biệt là 4 loại cá dưới đây:

1. Cá muối truyền thống và các loại cá khô ướp muối


Ảnh minh họa

Cá muối là món ăn khoái khẩu của nhiều gia đình nhờ vị mặn đậm đà, dễ bảo quản. bao gồm cả cá tươi ngâm muối cho lên men rồi ăn, hay cá ướp muối được phơi/sấy. Điều đáng lo là trong quá trình biến tấu và ướp muối truyền thống kéo dài, thịt cá sẽ sản sinh ra một lượng cực lớn chất nitrit. Khi các hoạt chất này đi vào dạ dày, chúng sẽ kết hợp với protein để tạo thành chất nitrosamine. Chưa kể, lượng natri từ những loại cá này rất lớn.

Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế thuộc Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã xếp nitrosamine vào nhóm tác nhân gây ung thư cực mạnh. Việc tiêu thụ loại cá này thường xuyên sẽ kích thích tế bào đột biến, làm tăng đột biến nguy cơ mắc ung thư thực quản, ung thư gan và ung thư dạ dày.

2. Cá đông lạnh bị tẩy tẩm formaldehyde để giữ độ tươi

Để kéo dài thời hạn sử dụng, giữ cho thịt cá luôn trắng phồng và không bị thối rữa, một số thương lái bất chính đã nhúng cá vào dung dịch formaldehyde. Đây là loại hóa chất độc hại bị cấm tuyệt đối trong ngành thực phẩm.

Khi con người ăn phải loại cá ngậm hóa chất này, formaldehyde sẽ tấn công trực tiếp vào niêm mạc đường tiêu hóa, gây phản ứng dị ứng nặng, hoại tử tế bào nội tạng. Nguy hiểm hơn, việc tiếp xúc tích tụ chất này lâu dài trong cơ thể là mầm mống khởi phát căn bệnh bạch cầu (ung thư máu) vô phương cứu chữa. Dấu hiệu nhận biết là những con cá này trông đẹp mắt lạ thường hoặc có mùi lạ, kết cấu không săn chắc hoặc quá cứng.


Ảnh minh họa

3. Các loại cá chứa thủy ngân cao

Nhiều người chuộng mua cá ngừ mắt to, cá kiếm, cá mập hay cá marlin vì nghĩ cá càng to càng bổ dưỡng. Sự thật hoàn toàn ngược lại. Vì nằm ở đỉnh chuỗi thức ăn đại dương, chúng liên tục ăn các loài cá nhỏ và tích lũy hàm lượng thủy ngân cùng các chất ô nhiễm nặng nề qua năm tháng.

Theo Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA), nhóm cá này chứa trung bình từ 0,5 đến 1,5 miligam thủy ngân trên mỗi kilogram thịt. Thủy ngân là độc tố tàn khốc nhất đối với hệ thần kinh trung ương. Tiêu thụ lâu dài sẽ gây ra các chứng rối loạn thần kinh nghiêm trọng, mất trí nhớ, giảm thị lực, và đặc biệt làm tổn thương não bộ, dị tật thai nhi ở phụ nữ mang thai và trẻ nhỏ.

4. Ăn cá sống, nhất là cá đánh bắt từ vùng nước ngọt

Trào lưu ăn gỏi cá sống, sashimi cá nước ngọt đang rầm rộ ở nhiều quốc gia thời gian gần đây, nhưng không phải ai cũng biết thú ăn này lại tiềm ẩn rủi ro sinh tử. Mặc dù ăn cá sống dù là cá biển hay cá nước ngọt, nước lợ đều nguy hiểm nhưng sẽ ở mức độ khác nhau. Khác với cá biển sâu, cá nước ngọt là môi trường trú ngụ lý tưởng của các loại ký sinh trùng, nguy hiểm nhất là sán lá gan.

Khi bạn ăn thịt cá chưa được nấu chín, sán lá gan dễ dàng xâm nhập, di chuyển và cư trú kiên cố ngay trong ống dẫn mật ở gan. Chúng âm thầm hút máu, tàn phá nhu mô gan, gây viêm nhiễm hệ thống mật mãn tính, dẫn đến xơ gan cổ trướng và tiến triển thành ung thư gan ở giai đoạn cuối.


Ảnh minh họa

Ăn cá thế nào để ngon và khỏe?

Cá sẽ nguồn thực phẩm bổ dưỡng giàu protein và axit béo không bão hòa tốt cho tim mạch nếu bạn tuân thủ các nguyên tắc lựa chọn và chế biến sau:

- Ưu tiên ăn các loại cá nhỏ, vòng đời ngắn: Các loại cá như cá mòi, cá trích, cá nục, cá bạc má có giá thành rẻ nhưng lại cực kỳ giàu Omega-3, DHA, EPA. Do vòng đời ngắn, chúng ít có nguy cơ tích tụ kim loại nặng hay thủy ngân trong cơ thể như cá lớn.

- Chọn cá tươi ngon: Chỉ chọn mua những con cá có mắt trong suốt, lồi nhẹ và phản chiếu ánh sáng. Thịt cá phải có độ đàn hồi tốt khi ấn vào, mang cá đỏ tươi tự nhiên và có mùi đặc trưng của biển, không mua cá có mùi hôi hay mùi hóa chất lạ.

- Tuyệt đối không ăn cá thay thế hoàn toàn thịt: Thịt đỏ (như thịt bò, thịt lợn nạc) cung cấp hàm lượng sắt và khoáng chất thiết biệt mà thịt trắng hằng ngày không thể thay thế. Chế độ ăn chuẩn nhất là kết hợp cả hai theo tỷ lệ hợp lý: 75-100g thịt trắng và 50-75g thịt đỏ mỗi ngày.


Ảnh minh họa

- Ưu tiên phương pháp hấp thanh đạm: Thay vì chiên, nướng ở nhiệt độ cao dễ sinh ra các chất trùng hợp oxy hóa gây ung thư dạ dày, bạn nên ưu tiên món cá hấp, luộc, nấu canh. Đặc biệt là cá hấp vì hấp giúp giữ lại tối đa giá trị dinh dưỡng, vitamin, đồng thời hạn chế dầu mỡ gây gánh nặng cho hệ tim mạch.

- Kiểm soát tần suất ăn cá hợp lý: Theo các hướng dẫn dinh dưỡng, một người trưởng thành khỏe mạnh nên duy trì ăn cá ít nhất 2 lần một tuần, với tổng lượng dao động từ 300-500g để cơ thể hấp thu trọn vẹn dưỡng chất tốt nhất.

Nguồn và ảnh: Common Health, The Paper, Healthline

Tin vui cho hàng triệu người mắc viêm gan B

Một loại thuốc mới vừa cho kết quả đầy hứa hẹn, mở ra hy vọng điều trị hiệu quả hơn cho hàng triệu người mắc viêm gan B trên toàn thế giới.

Sau nhiều thập kỷ tìm kiếm một phương pháp điều trị hiệu quả cho viêm gan B mãn tính, các nhà khoa học vừa công bố kết quả nghiên cứu được đánh giá là một trong những bước tiến đáng chú ý nhất trong lĩnh vực này.


Loại thuốc mới mang đến nhiều hy vọng cho hàng triệu bệnh nhân khắp thế giới

Một loại thuốc mới mang tên bepirovirsen đã cho thấy khả năng giúp khoảng 20% bệnh nhân kiểm soát hoàn toàn virus mà không cần tiếp tục dùng thuốc trong thời gian dài, mở ra hy vọng mới cho hàng triệu người đang sống chung với căn bệnh được mệnh danh là “kẻ giết người thầm lặng”.

Theo kết quả thử nghiệm lâm sàng giai đoạn III vừa được công bố trên Tạp chí Y học New England, thuốc bepirovirsen đã được thử nghiệm trên 1.838 người trưởng thành mắc viêm gan B mãn tính tại 29 quốc gia. Kết quả cho thấy khi được sử dụng kết hợp với phác đồ điều trị tiêu chuẩn hiện nay, khoảng 19% bệnh nhân đạt được trạng thái mà các nhà khoa học gọi là “khỏi bệnh chức năng”.

Điều này có nghĩa là hệ miễn dịch của người bệnh đã kiểm soát được virus trong cơ thể và duy trì trạng thái đó ít nhất 6 tháng sau khi ngừng điều trị. Đây được xem là kết quả rất tích cực nếu so với các phương pháp hiện hành, vốn chỉ giúp khoảng 3% bệnh nhân đạt được trạng thái tương tự sau 8-10 năm điều trị liên tục.

Các chuyên gia nhận định kết quả này mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi viêm gan B từ lâu được xem là một trong những bệnh truyền nhiễm khó điều trị nhất.

Virus viêm gan B có khả năng ẩn náu trong tế bào gan, né tránh sự phát hiện của hệ miễn dịch và tồn tại dai dẳng trong cơ thể nhiều năm, thậm chí suốt đời.

Theo thống kê toàn cầu, hiện có hơn 240 triệu người đang sống chung với viêm gan B mãn tính. Tuy nhiên, chỉ khoảng 13% trong số đó biết mình mắc bệnh. Chính vì thường không gây triệu chứng rõ ràng trong thời gian dài nên căn bệnh này được gọi là “kẻ giết người thầm lặng”.


Mỗi năm, hơn 1 triệu người trên thế giới tử vong do các biến chứng liên quan đến viêm ganB

Các chuyên gia cho biết viêm gan B là nguyên nhân hàng đầu gây ung thư gan và được xem là một trong những tác nhân gây ung thư nguy hiểm nhất hiện nay, chỉ đứng sau thuốc lá.

Viêm gan B không lây qua các tiếp xúc thông thường như: ăn uống chung, bắt tay, ho hay hôn xã giao. Tuy nhiên, việc dùng chung dao cạo râu, bàn chải đánh răng, dụng cụ cắt móng hoặc tiếp xúc với máu nhiễm virus đều có thể làm tăng nguy cơ lây nhiễm.

Điều đáng lo ngại là trẻ sơ sinh nhiễm virus từ mẹ có nguy cơ chuyển sang viêm gan B mãn tính rất cao.

Các nghiên cứu cho thấy khoảng 90% trẻ bị nhiễm bệnh ngay từ khi sinh sẽ phát triển thành bệnh mãn tính, trong khi tỷ lệ này ở người trưởng thành chỉ khoảng 5%.

Bepirovirsen được kỳ vọng sẽ thay đổi cách tiếp cận điều trị căn bệnh này.

Thay vì chỉ đơn thuần ức chế virus như các thuốc kháng virus hiện nay, thuốc mới hoạt động theo nhiều cơ chế cùng lúc. Nó giúp hạn chế quá trình tạo protein của virus, ngăn virus nhân lên và đồng thời kích hoạt hệ miễn dịch nhận diện, tấn công các tế bào nhiễm bệnh hiệu quả hơn.

Các nhà nghiên cứu cho biết thuốc dường như giúp hệ miễn dịch “giành lại quyền kiểm soát” trước loại virus vốn nổi tiếng với khả năng lẩn tránh cơ chế phòng vệ tự nhiên của cơ thể.

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy hiệu quả điều trị cao hơn ở những bệnh nhân có tải lượng virus thấp và bệnh đã được kiểm soát tốt từ trước. Trong nhóm này, tỷ lệ đạt khỏi bệnh chức năng lên tới 26%.

Tuy nhiên, các chuyên gia cũng lưu ý rằng đây chưa phải là phương pháp chữa khỏi hoàn toàn cho tất cả bệnh nhân.

Thử nghiệm chưa bao gồm một số nhóm bệnh nhân như người bị xơ gan, người nhiễm HIV hoặc các trường hợp bệnh nặng.

Ngoài ra, thuốc có thể gây ra một số tác dụng phụ như phản ứng tại vị trí tiêm, ảnh hưởng đến số lượng tiểu cầu hoặc chức năng thận, do đó cần được theo dõi chặt chẽ trong quá trình điều trị.

Nguồn: Nationalgeographic

Loại quả mùa hè giúp chống oxy hóa, tốt cho sức khỏe

Loại quả mùa hè giúp chống oxy hóa, tốt cho sức khỏe được nhắc đến là vải thiều giúp tăng sức đề kháng, bổ sung vitamin C làm đẹp da nếu ăn đúng cách.

Vải là loại trái cây đặc trưng của mùa hè, được nhiều người yêu thích nhờ vị ngọt thơm hấp dẫn. Không chỉ là món ăn giải nhiệt, quả vải còn chứa nhiều vitamin, khoáng chất và chất chống oxy hóa có lợi cho sức khỏe nếu sử dụng đúng cách.


Lệ Giang


04 tháng 6 2026

Loài sinh vật mới độc nhất vô nhị ở hồ nước mặn của Mỹ

 

Các chuyên gia đã phát hiện xác định được một loài sinh vật hoàn toàn mới ở hồ Great Salt (Mỹ). Loài này chỉ được ghi nhận tại hồ nước mặn này.

Trong nghiên cứu công bố trên tạp chí khoa học Journal of Nematology, nhóm chuyên gia dẫn đầu bởi Đại học Utah (Mỹ) cho biết họ đã xác định được một loài sinh vật hoàn toàn mới ở hồ Great Salt. Họ đặt tên cho loài mới là Diplolaimelloides woaabi. Điều đó khiến nó trở thành loài đặc hữu của hồ. Phát hiện mới được các chuyên gia đánh giá có thể nắm giữ những manh mối quan trọng về quá khứ và tương lai của hồ Great Salt.

Là hồ nước mặn lớn thứ 6, hồ Great Salt có độ mặn cao hơn biển nên có rất ít sinh vật sinh sống. Nơi đây chỉ có vài loại có thể sinh tồn như tôm nước mặn và ruồi nước mặn. Do đó, việc phát hiện Diplolaimelloides woaabi tại hồ Great Salt trở thành bí ẩn khiến giới khoa học "tò mò" đi tìm lời giải.

Theo các nhà nghiên cứu, Diplolaimelloides woaabi trở thành nhóm động vật thứ ba được biết đến sống trong vùng nước cực mặn của hồ Great Salt (sau tôm nước mặn và ruồi nước mặn). Diplolaimelloides woaabi là một loài giun tròn nhỏ, sống trong các microbialite - một dạng cấu trúc do vi sinh vật tạo nên bên trên các thảm tảo.


Loài giun Diplolaimelloides woaabi lần đầu được phát hiện ở hồ Great Salt (Mỹ). Ảnh: Shutterstock.

Loài giun Diplolaimelloides woaabi này thuộc bộ Monhysterida - một "gia tộc" nổi tiếng với khả năng chịu mặn cao. Tuy nhiên, "cao" ở đây là các vùng nước biển ven bờ hoặc nước lợ. Do đó, việc phát hiện một loài thuộc bộ này ở một hồ Great Salt nằm ở độ cao hơn 1.200m so với mực nước biển và cách đại dương gần nhất khoảng 1.300 km là một điều rất kỳ lạ.

Ngoài ra, giới tính của cộng đồng sinh vật này cũng khiến các nhà khoa học "bối rối". Trong tự nhiên, số lượng giun đực chiếm chưa đầy 1% quần thể. Tuy nhiên, khi đưa vào nuôi cấy trong phòng thí nghiệm, tỉ lệ giun đực lại tăng vọt lên khoảng 50%.

Các nhà khoa học thừa nhận có điều gì đó ở môi trường hồ Great Salt thực tế đang tác động đến tỉ lệ giới tính của loài giun Diplolaimelloides woaabi mà họ chưa giải mã được.

Liên quan đến vấn đề này, các chuyên gia đưa ra 2 giả thuyết. Đầu tiên, họ suy đoán loài giun Diplolaimelloides woaabi có thể là những sinh vật sống sót từ giữa kỷ Phấn Trắng, khoảng 100 triệu năm trước, khi vùng đất này còn là một đường bờ biển lớn. Nếu giả thuyết này chính xác thì loài giun Diplolaimelloides woaabi đã sống sót ngoạn mục khi trải qua nhiều lần biến đổi khí hậu và trồi sụt độ mặn cực đoan của khu vực.

Giả thuyết thứ hai cho rằng Diplolaimelloides woaabi có thể được các loài chim di cư vô tình mang từ các hồ mặn khác đến thông qua lông hoặc bùn đất.

Mặc dù các nhà khoa học vẫn chưa thể giải mã lý do vì sao loài giun Diplolaimelloides woaabi xuất hiện và tồn tại ở hồ Great Salt nhưng sự hiện diện của chúng cho thấy loài này có vai trò sinh thái quan trọng trong tại nơi đây.

Tâm Anh Tổng Hợp

Mở ngôi mộ 78.000 năm, hé lộ bí mật chưa biết của loài người

Khi khai quật ngôi mộ 78.000 năm tuổi trong hang Panga ya Saidi ở Kenya, các chuyên gia đã có khám phá bất ngờ về lịch sử loài người.

Dự án nghiên cứu kéo dài hơn một thập kỷ tại hang Panga ya Saidi do Viện Khoa học lịch sử nhân loại Max Planck (Đức) chủ trì mới thông tin về di tích mai táng lâu đời nhất từng được ghi nhận tại châu Phi. Đó là việc các chuyên gia tìm thấy ngôi mộ của đứa trẻ 3 tuổi được chôn cất cách đây 78.000 năm.

Hang Panga ya Said tọa lạc ở vùng ven biển Kenya, nơi sở hữu một môi trường rừng nhiệt đới với đồng cỏ ổn định, tạo điều kiện cho người tiền sử cư trú dài lâu.

Theo các nhà nghiên cứu, bên trong ngôi mộ chứa hài cốt một đứa trẻ thuộc loài người hiện đại (Homo sapiens). Đứa bé qua đời khi 3 tuổi. Tư thế chôn cất cho thấy đứa bé được đặt vào trong ngôi mộ trong tư thế bào thai, đầu đặt lên một chiếc gối và cơ thể được mặc nhiều lớp "vải liệm".


Ngôi mộ chứa hài cốt đứa trẻ 3 tuổi được chôn cất cách đây 78.000 năm trong hang Panga ya Said. Ảnh: Mohammad Javad Shoaee.

Chiếc gối và "vải liệm" là vật liệu hữu cơ đã bị phân hủy hoàn toàn theo thời gian. Tuy nhiên, các nhà khoa học cho rằng chúng có thể được làm từ da thú hoặc vỏ cây, lá cây được bện lại bởi thời kỳ đó loài người chưa biết dệt vải.

Cuối cùng, ngôi mộ được lấp lại cẩn thận bằng nhiều lớp đất. Điều này cho thấy đây một nghi thức an táng công phu và cầu kỳ. Phát hiện này đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại về tư duy trí tuệ và cấu trúc xã hội của loài người.

Ngoài ngôi mộ trên, các chuyên gia còn tìm thấy nhiều công cụ và trang sức nằm trong nhiều lớp trầm tích bên trong hang Panga ya Said từ 25.000 đến 78.000 năm trước. Trong đó, những công cụ khoảng 67.000 năm tuổi là bằng chứng về cuộc "cách mạng công nghệ" thú vị.

Giám đốc Viện Khoa học lịch sử nhân loại Max Planck Nicole Boivin, trưởng nhóm nghiên cứu cho biết, các khám phá tại hang Panga ya Saidi làm thay đổi các lý thuyết cũ về lịch sử tiến hóa và di cư của loài người. Trước đây, giới khảo cổ thường coi vùng rừng ven biển Đông Phi là khu vực kém phát triển, chỉ được loài người dùng như "đường cao tốc" cho các cuộc di cư.

Tuy nhiên, những phát hiện trong hang Panga ya Saidi đã cung cấp bằng chứng cho thấy loài người từng chọn nơi đây để định cư lâu dài, thích ứng với môi trường, các điều kiện sinh hoạt và hình thành một đời sống tinh thần phức tạp sớm hơn rất nhiều so với các dự đoán trước đó của giới chuyên gia.

Tâm Anh Tổng Hợp

Nghiên cứu phát hiện sự sống trên xác ướp hơn 5.300 năm tuổi

Nghiên cứu mới cho thấy một số vi sinh vật, đặc biệt là các loài nấm men ưa lạnh, vẫn đang hoạt động trên xác ướp người băng Ötzi sau hơn 5.300 năm, cung cấp thêm hiểu biết về hệ vi sinh cổ đại và những thách thức trong bảo tồn xác ướp.


Một phần cơ thể của Ötzi, được gọi là “Người băng”, xác ướp tự nhiên cổ nhất được phát hiện năm 1991 tại dãy Alps. Ảnh: Reuters

Ötzi, được gọi là “Người băng”, xác ướp tự nhiên cổ nhất được phát hiện năm 1991 tại dãy Alps, gần biên giới hiện nay giữa Italy và Áo.

Các nghiên cứu trước đây cho thấy ông qua đời cách đây khoảng 5.300 năm sau khi bị một mũi tên bắn trúng vai trái, gây mất máu dẫn đến tử vong.

Trong nghiên cứu mới công bố trên tạp chí Microbiome, các nhà khoa học đã thực hiện cuộc phân tích toàn diện nhất từ trước đến nay về hệ vi sinh vật trên cơ thể Ötzi. Nhóm nghiên cứu khảo sát vi khuẩn, nấm và nấm men tại nhiều vị trí mô khác nhau của cơ thể Ötzi dựa trên các mẫu được thu thập trong hơn ba thập kỷ.

Kết quả cho thấy có ba nhóm vi sinh vật riêng biệt tồn tại trong và trên cơ thể xác ướp. Nhóm thứ nhất gồm các vi khuẩn đường ruột cổ đại từng là một phần trong hệ vi sinh của Ötzi khi ông còn sống.

Nhóm thứ hai là các vi sinh vật có nguồn gốc từ môi trường sông băng, nơi thi thể ông được bảo tồn trong nhiều thiên niên kỷ.

Nhóm còn lại gồm các vi sinh vật hiện đại xuất hiện trong quá trình bảo quản xác ướp tại bảo tàng.

Ông Mohamed Sarhan, nhà vi sinh học thuộc Viện Nghiên cứu Xác ướp Eurac Research tại Bolzano (Italy) và là tác giả chính của nghiên cứu, cho biết kết quả cho thấy Ötzi không phải là một di vật sinh học hoàn toàn bất động.

Theo ông, cơ thể xác ướp vẫn chứa các vi sinh vật còn sống, có khả năng trao đổi chất và phản ứng với môi trường xung quanh.

Các nhà nghiên cứu xác định những loài nấm men thích nghi với môi trường lạnh vẫn đang phát triển. Một số vi khuẩn cũng đã cư trú và tồn tại trên các mô của xác ướp trong nhiều thập kỷ.

Ông Sarhan cho biết: "Xác ướp là nơi giao thoa giữa thế giới cổ đại và hiện tại, nơi các vi sinh vật từ 5.000 năm trước cùng tồn tại với những loài xuất hiện trong những năm gần đây".

Đối với khảo cổ học và lịch sử loài người, các vi khuẩn đường ruột cổ đại mang lại cơ hội hiếm có để nghiên cứu hệ vi sinh của con người thời kỳ Đồ Đồng, trước khi công nghiệp hóa, kháng sinh và thực phẩm chế biến làm thay đổi đáng kể hệ vi sinh vật của con người.

Những vi khuẩn được tìm thấy trong đường ruột Ötzi bao gồm các loài liên quan đến chế độ ăn giàu chất xơ thời tiền công nghiệp, vốn hiện rất hiếm gặp ở những người theo lối sống phương Tây hiện đại.

Theo Sarhan, sự biến mất của các vi khuẩn này có thể liên quan đến thay đổi chế độ ăn uống, việc sử dụng kháng sinh và sự giảm tiếp xúc với môi trường tự nhiên.

Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu cho biết chưa thể xác định liệu các vi khuẩn đường ruột cổ đại này còn hoạt động sinh học hay không. Dữ liệu ADN cho thấy chúng mang những dấu hiệu hư hại phù hợp với quá trình phân hủy kéo dài hàng nghìn năm, chứng tỏ nguồn gốc cổ đại của chúng.

Dù vậy, các nhà khoa học nhận định chúng đã được bảo tồn rất tốt trong môi trường yếm khí của đường ruột suốt hơn 5 thiên niên kỷ.

Các nghiên cứu trước đây về dạ dày của Ötzi cho thấy bữa ăn cuối cùng của ông gồm thịt hươu, thịt dê và lúa mì. Những nghiên cứu khác xác định ông qua đời lúc 45 tuổi và có thể trạng khỏe mạnh. Ông mang theo nhiều vật dụng như rìu đồng, cung dài, mũi tên, dao đá lửa và ba lô, đồng thời có các hình xăm hình học trên cơ thể.

Ông Frank Maixner, đồng tác giả nghiên cứu và là Giám đốc Viện Nghiên cứu Xác ướp Eurac Research, cho rằng: “Ötzi giống như một "vị khách" mang đến những hiểu biết quý giá về quá khứ”.

Nhóm nghiên cứu cũng phát hiện nước phun được sử dụng để giữ độ ẩm cho xác ướp đã đưa một lượng lớn vi khuẩn lên bề mặt cơ thể.

Theo các tác giả, những vi sinh vật hiện đại này đang làm thay đổi hệ vi sinh bên ngoài của xác ướp, một hệ quả của công tác bảo tồn mà trước đây chưa được nhận diện đầy đủ.

Đổ Hương

Arsinoe IV – người em bị Cleopatra sát hại và bí ẩn của ngai vàng Ai Cập.

Khi bị sát hại, Arsinoe mới chỉ ngoài 20 tuổi. Việc bà bị giết ngay trong đền thờ Artemis bị nhiều người đương thời coi là hành động xúc phạm các vị thần.


Chạm khắc hình Arsinoe IV, em gái của Cleopatra. Ảnh: Wikimedia Commons

Những năm tháng giam cầm và cái chết bi thảm của Arsinoe

Julius Caesar không quan tâm việc Arsinoe là cô ruột của Caesarion, con trai đầu lòng của Cleopatra và nhiều khả năng là con của chính ông. Trong mắt Caesar, Arsinoe chỉ là người đã lãnh đạo một cuộc nổi dậy thất bại chống lại Cleopatra, và là một trong số nhiều vị vua, nữ hoàng đã bị bắt giữ để chứng minh sức mạnh của La Mã.

Năm 46 trước Công nguyên, Caesar trở về Rome trong vinh quang chiến thắng, ăn mừng việc chinh phục Ai Cập, xứ Gaul, Pontus và nhiều vùng đất khác bằng một cuộc diễu hành khổng lồ. Arsinoe IV bị diễu qua các đường phố Rome trong những sợi xích vàng, trở thành một trong số rất ít nữ quân chủ phải chịu sự sỉ nhục như vậy.

Các cuộc khải hoàn của Julius Caesar tại Rome thường có sự xuất hiện của nhiều vị vua và nhà cai trị bị bắt giữ. Trong khi Caesar ra lệnh xử tử Ganymedes, ông quyết định tha mạng cho Arsinoe sau lễ khải hoàn. Suy cho cùng, việc tiếp tục làm nhục Ai Cập và triều đại Ptolemy có thể gây bất ổn cho quyền lực của chính Caesar.

Sau đó, Arsinoe được phép trở thành nữ tu của Đền thờ Artemis tại Ephesus, một vị trí được cho là sẽ ngăn bà đưa ra bất kỳ yêu sách nào đối với ngai vàng Ai Cập. Tuy nhiên, một số người chỉ trích Cleopatra vẫn thì thầm rằng Arsinoe sẽ là một nữ hoàng xứng đáng hơn, làm dấy lên những tin đồn rằng bà có thể trở lại nắm quyền.


Cuộc khải hoàn của Julius Caesar ở Rome, diễu theo nhiều vị vua bị bắt giữ từ các xứ mà ông đã chinh phục. Ảnh: Wikimedia Commons

Trong khi đó, vụ ám sát Julius Caesar năm 44 trước Công nguyên nhanh chóng đẩy Rome vào nội chiến và làm lung lay quyền lực của Cleopatra. Nữ hoàng Ai Cập lập tức liên minh với Mark Anthony, một trong những người kế thừa quyền lực của Caesar, và cuối cùng đã gây áp lực buộc người tình kiêm đồng minh chính trị mới của mình phải loại bỏ một mối đe dọa đối với ngai vàng: Arsinoe.

Anthony, người sẵn sàng làm mọi điều để giúp Cleopatra, đã đồng ý cử sát thủ đến Đền thờ Artemis ở Ephesus để giết Arsinoe IV vào năm 41 trước Công nguyên. Khi bị sát hại, Arsinoe mới chỉ ngoài 20 tuổi. Việc bà bị giết ngay trong đền thờ bị nhiều người đương thời coi là hành động xúc phạm các vị thần.


Đền thờ Artemis - một trong bảy kỳ quan của thế giới cổ đại - là nơi Arsinoe trải qua những ngày cuối đời. Ảnh: Wikimedia Commons

Dù vậy, cặp đôi Anthony và Cleopatra vẫn duy trì quyền lực của mình trong nhiều năm sau đó trước khi cả hai cũng đi đến kết cục bi thảm.

Dường như Cleopatra chưa bao giờ quên nỗi nhục mà em gái mình phải chịu khi bị dẫn đi qua các đường phố Rome như một vị quân chủ bại trận. Vì thế, khi Octavian - đối thủ của Anthony - đánh bại Antony và Cleopatra, đồng thời chuẩn bị thâu tóm hoàn toàn Ai Cập, nữ hoàng huyền thoại đã tự kết liễu đời mình vào năm 30 trước Công nguyên để không phải đối mặt với sự sỉ nhục tương tự mà Arsinoe từng trải qua.

Di sản phức tạp của Arsinoe IV và bí ẩn về nơi an nghỉ cuối cùng

Trong những năm đầu đời của Arsinoe IV, các sử gia đương thời hầu như không nhắc đến bà. Dù là con gái của một vị vua Ai Cập, Arsinoe ban đầu bị xem là một nhân vật không mấy quan trọng. Điều đó chỉ thay đổi khi bà trở thành gương mặt đại diện cho sự kháng cự của người Ai Cập trước người La Mã - và sau đó là biểu tượng cho chiến thắng của La Mã tại Ai Cập.

Về sau, chỉ riêng sự tồn tại của Arsinoe cũng đủ khiến bà trở thành mối đe dọa đối với Cleopatra - người cuối cùng đã đạo diễn vụ sát hại chính em gái mình để củng cố vị thế chính trị.

Nhiều thế kỷ sau, các nhà sử học vẫn có những đánh giá khác nhau về Arsinoe. Một số xem bà là kẻ phản bội vì đã nổi dậy chống lại chị gái và tìm cách chiếm lấy ngai vàng. Những người có thiện cảm với Cleopatra thường cho rằng việc ám sát Arsinoe là lựa chọn cần thiết để bảo vệ triều đại của nữ hoàng.

Tuy nhiên, những người khác lại coi Arsinoe là nạn nhân của sự chuyên quyền từ Cleopatra, đặc biệt khi xét đến việc bà vẫn còn rất trẻ vào thời điểm cuộc nổi dậy diễn ra. Một số học giả chỉ ra rằng Arsinoe có lẽ chịu ảnh hưởng từ những người cố vấn lớn tuổi hơn, những người muốn gia tăng quyền lực cho bản thân và có thể đã tác động đến các quyết định định mệnh mà bà đưa ra.

Và bởi chính Cleopatra là người yêu cầu Mark Anthony giết hại Arsinoe, một số sử gia thậm chí còn ví vụ ám sát này như một “lễ hiến tế” mà Cleopatra nhận được từ người tình của mình.

Ngày nay, Cleopatra thường được nhớ đến như một biểu tượng của sắc đẹp và trí tuệ. Tuy nhiên, triều đại của bà thực tế lại đầy rẫy những cuộc đấu đá quyền lực và đổ máu.

Bên cạnh cái chết bi thảm của Arsinoe và những tranh cãi về di sản lịch sử của bà, một chủ đề khác vẫn tiếp tục thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu là nơi an nghỉ cuối cùng của vị công chúa nhà Ptolemy này.


Các nghiên cứu gần đây đã bác bỏ tuyên bố rằng hộp sọ được khai quật ở Ephesos thuộc về Arsinoe IV, em gái của Cleopatra. Ảnh: Wikimedia Commons

Giống như nhiều kỳ quan khác của thế giới cổ đại, đền thờ Artemis cuối cùng cũng bị phá hủy theo thời gian. Tuy nhiên, một ngôi mộ đồ sộ vẫn còn tồn tại. Được làm từ đá cẩm thạch, ngôi mộ này chứa một hộp sọ người.

Khi các nhà khảo cổ phát hiện chiếc hộp sọ tại Ephesus vào năm 1929, nhiều người tự hỏi liệu đây có phải là một phần hài cốt của Arsinoe hay không. Bí ẩn càng trở nên hấp dẫn hơn khi phần còn lại của bộ xương được tìm thấy nhiều thập kỷ sau đó.

Tuy nhiên, một phân tích gần đây cho thấy bộ xương này không thuộc về em gái của Cleopatra. Thay vào đó, nó thuộc về một cậu bé từ 11 đến 14 tuổi và có thể mắc một dạng rối loạn phát triển.

Vì vậy, hài cốt thực sự của Arsinoe đến nay vẫn chưa được tìm thấy, và nơi an nghỉ cuối cùng của bà vẫn là một bí ẩn chưa có lời giải.

Thu Hằng/Báo Tin tức và Dân tộc (Theo ATI)



CHÀO MỪNG QUÝ THẦY CÔ VÀ ĐỒNG MÔN TRƯỜNG HOÀNG DIỆU SÓC TRĂNG THAM QUAN, ỦNG HỘ HOANGDIEUTRUONGXUASAIGON.BLOGSPOT.COM. CHÚC THẦY CÔ VÀ ANH CHỊ EM NHIỀU SỨC KHỎE, THÀNH CÔNG TRONG CÔNG VIỆC.