.

.

a

Hoa đào nở, chim én về, mùa xuân lại đến. Chúc quý thầy cô và anh chị em đồng môn năm mới Bính Ngọ 2026 : - nghìn sự như ý, vạn sự như mơ, triệu sự bất ngờ, tỷ lần hạnh phúc.
THƯƠNG CHÚC THẦY CÔ, ANH CHỊ EM ĐỒNG MÔN TRƯỜNG HOÀNG DIỆU - MỘT NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026 AN KHANG THỊNH VƯỢNG - VẠN SỰ NHƯ Ý

23 tháng 3 2026

Cảm ơn ông, ông Tesla. Thế giới cuối cùng đã hiểu.

 


Ông qua đời một mình trong phòng khách sạn với chỉ 33 xu trong túi,người đàn ông từng thắp sáng cả thế giới.

Ngày 7 tháng 1 năm 1943. Phòng 3327, Khách sạn New Yorker, Manhattan.

Người hầu gõ cửa lần thứ ba trong ba ngày liên tiếp. Không ai trả lời. Cô dùng chìa khóa và bước vào. Trên giường, Nikola Tesla nằm đó 86 tuổi, một mình, và đã ra đi.

Người đã khai thác sức mạnh của thác Niagara. Nhà phát minh với hệ thống dòng điện xoay chiều, cung cấp năng lượng cho các ngôi nhà đến tận hôm nay. Nhà tiên tri đã tưởng tượng ra truyền thông không dây, điều khiển từ xa, và những công nghệ mà thời đại ông coi là phép màu.

Nhưng Tesla đã ra đi gần như không còn gì. Không gia đình. Không tài sản. Chỉ còn một căn phòng đầy giấy tờ, những con chim bồ câu ông nuôi từ cửa sổ, và những ký ức về một cuộc đời theo đuổi những giấc mơ mà thế giới chưa sẵn sàng.

Nguyên nhân chính thức là tắc mạch vành tim. Nhưng có lẽ cũng là một trái tim tan vỡ. Trong thập kỷ cuối đời, Tesla chứng kiến người khác nhận công cho những phát minh của mình. Thế giới ca ngợi công trình của người khác, trong khi đóng góp của ông bị lãng quên hoặc đánh cắp.

Tesla đến Mỹ năm 1884 với chỉ bốn xu trong túi, một cuốn sách thơ, và những ý tưởng sẽ thay đổi thế giới. Chỉ vài năm sau, ông đã cách mạng hóa kỹ thuật điện, chiến thắng hệ thống dòng điện một chiều của Thomas Edison bằng hệ thống dòng điện xoay chiều đa pha, đưa điện năng đến hàng triệu người.

Ông phát minh cuộn Tesla, tiên phong công nghệ radio, và mơ về năng lượng không dây cho tất cả mọi người. Nhưng những ý tưởng của ông thường đi trước thời đại. Các nhà đầu tư rút lui. JP Morgan cắt kinh phí dự án Wardenclyffe Tower, nơi được dự định truyền năng lượng không dây khắp thế giới.

Đến thập niên 1920, Tesla trở thành một “của lạ”. Một ông già lập dị sống trong những khách sạn mà ông không đủ khả năng trả tiền. Khách sạn New Yorker trở thành nhà ông trong thập kỷ cuối cùng, tiền thuê được Westinghouse Electric trả thay, tôn trọng tài năng của ông. Tesla dành cả ngày nuôi chim bồ câu, đặc biệt là một con bồ câu trắng mà ông gọi là “tình yêu”. Ông tiếp tục nghiên cứu về tia vũ trụ và “tia tử thần”, những phát minh có thể chấm dứt chiến tranh, nhưng không còn ai nghe ông nữa.

Trong bức ảnh cuối đời, vẫn có thể thấy sự sáng suốt trong ánh mắt ông. Cái nhìn sắc bén đã từng nhìn thấy tương lai, phong thái tráng lệ của một người biết giá trị của mình, bất chấp sự thờ ơ của thế giới.

Khi Tesla qua đời, thế giới đã nhớ đến ông.

Ngày 12 tháng 1 năm 1943, hơn 2.000 người tụ họp tại Nhà thờ Thánh John the Divine để tôn vinh nhà phát minh. Các nhà khoa học, kỹ sư và người dân bình thường lấp đầy nhà thờ khổng lồ để kỷ niệm cuộc đời và di sản của ông.

Tài năng của Tesla cuối cùng đã được công nhận, nhưng quá muộn để ông chứng kiến. Những phát minh của ông—động cơ AC, cuộn Tesla, truyền thông không dây đã thay đổi thế giới, ngay cả khi không ai thực sự hiểu giá trị của chúng khi ông còn sống.

Tesla ra đi gần như không còn gì, nhưng đã để lại mọi thứ. Mỗi lần bạn bật công tắc điện hay sạc điện thoại, bạn chạm vào di sản của ông. Người đàn ông chết một mình trong khách sạn đã kết nối cả thế giới.

Ngày nay, tên ông vẫn sống mãi. Nhưng sự thật vẫn còn đó: Thiên tài không phải lúc nào cũng được công nhận vào thời của họ. Đôi khi, những kẻ mơ mộng ra đi trước khi tầm nhìn của họ trở thành hiện thực.

Nhưng công trình của họ vẫn còn tồn tại.

Ngày 7 tháng 1 năm 1943, Nikola Tesla thở hơi cuối cùng. Nhưng dòng điện ông khởi xướng vẫn chảy qua mọi thứ, mãi mãi.

Cảm ơn ông, ông Tesla. Thế giới cuối cùng đã hiểu.❤️
Theo Caylus
My Lan Phạm
 


Borgund Stave Church ở Na Uy thường được nhắc đến bằng một chi tiết rất lạ: một nhà thờ gỗ hơn tám trăm năm tuổi vẫn đứng vững qua bao mùa đông khắc nghiệt, nhờ vào kỹ thuật ghép mộng và chốt gỗ tinh vi thay vì dựa vào đinh sắt trong phần kết cấu chính. Nhưng điều làm công trình này thật sự cuốn hút không nằm ở một mẩu thông tin gây tò mò, mà ở cách người xưa hiểu gỗ, hiểu khí hậu và dựng nên một kiến trúc sống cùng thiên nhiên thay vì chống lại nó.

Nhà thờ được xây vào khoảng cuối thế kỷ XII, thường được ghi nhận quanh năm 1180, tại Borgund, vùng Lærdal của Na Uy. Đây là một trong những stave church được bảo tồn tốt nhất còn lại của Bắc Âu. Từ bên ngoài, công trình hiện ra như một khối gỗ sẫm màu vươn lên giữa thung lũng xanh, mái chồng tầng cao nhọn, dày đặc những đường nét sắc gọn và mạnh mẽ. Nhìn từ xa đã thấy vẻ cổ xưa. Lại gần hơn, từng lớp mái, từng thanh gỗ, từng chi tiết chạm khắc bắt đầu kể câu chuyện về một thời đại mà tay nghề thủ công có thể biến vật liệu mộc mạc thành thứ trường tồn.

Tên gọi “stave church” xuất phát từ những cột gỗ đứng làm nên bộ khung chính của công trình. Khác với kiểu nhà thờ đá nơi tường gánh phần lớn tải trọng, ở đây kết cấu được hình thành từ hệ thống cột, dầm, khung và các mối nối bằng gỗ ghép với nhau rất chính xác. Người thợ mộc thời ấy không cố ép vật liệu theo ý mình. Họ hiểu gỗ sẽ co lại khi lạnh khô, nở ra khi ẩm, nên toàn bộ công trình được tạo ra để thích nghi với chuyển động tự nhiên ấy. Chính sự linh hoạt này mới là bí quyết giúp Borgund tồn tại lâu đến vậy.

Chất liệu cũng góp phần quyết định. Những công trình như Borgund thường sử dụng gỗ thông già, sinh trưởng chậm, thớ chắc và bền. Gỗ được lựa chọn kỹ, xử lý bằng kinh nghiệm truyền đời, rồi đặt trên nền nâng cao để tránh ẩm từ mặt đất. Mái dốc nhiều lớp giúp mưa và tuyết trượt xuống nhanh, hạn chế đọng nước. Những điều ấy nghe có vẻ giản dị, nhưng lại là cả một tri thức xây dựng rất sâu. Độ bền của Borgund không đến từ sự cầu kỳ phô bày, mà từ những quyết định âm thầm nhưng chính xác.

Một trong những chi tiết khiến Borgund khác biệt là các đầu rồng chạm trên mái. Nhà thờ là công trình Kitô giáo, nhưng trong hình dáng của nó vẫn còn đó hơi thở của truyền thống Bắc Âu cổ. Những đầu thú, những hình chạm mang sắc thái Norse khiến công trình vừa linh thiêng vừa huyền bí. Chúng gợi nhớ đến thời kỳ mà niềm tin mới chưa xóa hẳn ký ức cũ, mà chỉ lặng lẽ hòa vào nhau. Bởi vậy, Borgund không chỉ đẹp ở kỹ thuật, mà còn đẹp ở cách nó lưu giữ cả một lớp văn hóa chuyển tiếp trong lịch sử Scandinavia.
Bên trong nhà thờ, cảm giác càng đặc biệt hơn. Không gian tối, trầm, mộc và rất yên. Những cột gỗ sẫm màu nâng đỡ toàn bộ nội thất, tạo nên chiều sâu và nhịp điệu rất riêng. Ánh sáng lọt vào dè dặt, đủ để các bề mặt gỗ cũ hiện lên với vẻ mềm và sâu. Không gian ấy không cần quá nhiều trang trí mà vẫn có sức nặng. Có cảm giác như thời gian ở đây đi chậm hơn, và mọi thứ đều được giữ lại bằng sự im lặng.

Vì quá nổi tiếng, Borgund đôi khi bị tóm gọn bằng một câu dễ nhớ kiểu “nhà thờ không cần đinh mà vẫn tồn tại suốt tám trăm năm”. Câu ấy nghe hấp dẫn, nhưng chưa đủ. Điều đáng nói hơn là người xưa đã xây dựng với sự hiểu biết hiếm có về vật liệu, thời tiết và tuổi thọ công trình. Họ không tìm cách chế ngự thiên nhiên bằng sức mạnh, mà chọn cách đi cùng quy luật của nó. Có lẽ chính vì vậy mà Borgund vẫn đứng đó, không mang vẻ của một phế tích, mà như một cơ thể gỗ già nua nhưng vẫn còn nguyên thần thái.

Ngày nay, Borgund Stave Church là một trong những biểu tượng đẹp nhất của kiến trúc gỗ Trung Cổ châu Âu. Nó cho thấy một công trình có thể bền đến mức nào khi được tạo nên bằng tay nghề, sự kiên nhẫn và óc quan sát rất sâu đối với thế giới tự nhiên. Giữa vô số công trình hiện đại có thể gây choáng ngợp trong khoảnh khắc, Borgund đem lại một ấn tượng khác: lặng, bền, chắc và đẹp theo cách càng ngắm càng thấy thấm.

Pane e Vino - 3 Nguyễn Khắc Cần






NHÀ THỜ ĐỨC BÀ SÀI GÒN…
Sáng 19.3.2026, hai thánh giá mạ vàng nặng 400 kg được đưa lên đỉnh tháp của nhà thờ Đức Bà Sài gòn. Tham dự lễ có Tổng giám mục Marek Zalewski, Đại diện thường trú Tòa thánh Vatican tại Việt Nam; Tổng giám mục Giuse Nguyễn Năng, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam, Tổng giám mục Tổng giáo phận TP.HCM cùng đông đảo linh mục, chuyên gia, kỹ sư thực hiện.
Sử gia Tim Doling cho biết: “Nhà thờ Đức Bà, còn gọi là Nhà thờ lớn, là nhà thờ Công giáo lớn nhất ở Saigon. Ý tưởng xây dựng một nhà thờ bằng gạch đã có rất lâu trước khi nhà thờ Thánh nữ Marie Vô nhiễm (ở vị trí Tòa án Nhân dân quận 1 trước đây) xây bằng gỗ đã có trước đó bị mối mọt làm hư hỏng. Tuy nhiên sau khi nhà thờ này bị tháo dỡ vào năm 1874, chính quyền vẫn chưa có đủ kinh phí để xây một ngôi nhà thờ mới nên Thống đốc Nam Kỳ phải cho tổ chức những thánh lễ trong phòng khánh tiết rộng lớn trong Dinh Thống đốc xây bằng gỗ trên đường Taberd (đường Nguyễn Du hiện nay).
Năm 1876, chính quyền Đông Dương tổ chức một cuộc thi quốc tế để chọn bản thiết kế đẹp nhất, 18 bản thiết kế được chấp nhận và cuối cùng người giành chiến thắng là một kiến trúc sư ở Paris tên Jules-Louis Bourard. Thống đốc Nam Kỳ Victor Duperré đã đặt viên đá đầu tiên xây cất nhà thờ mới vào ngày 7 tháng 10 năm 1877 trước sự chứng kiến của giám mục Isodore Colombert. Công việc xây cất được giao cho Công ty Bunard, kéo dài suốt 3 năm. Mảnh đất cát trên đó nhà thờ được xây cất đã gây ra lắm vấn đề cho các kỹ sư xây dựng, và vấn đề càng nghiêm trọng hơn vào năm 1877, khi người ta phát hiện một hồ nước ngay dưới nền móng của nhà thờ đang xây cất.
Vào lúc này việc cung cấp nước cho cư dân thành phố Saigon đang gặp nhiều khó khăn nên việc phát hiện một hồ nước ngay dưới nền móng của nhà thờ đã được nhiều người cho là “một ân sủng của Thiên Chúa”. Cuối năm 1877, nước của hồ nước bên dưới nền móng của nhà thờ được dẫn và bơm lên một tháp nước đầu tiên được dựng lên ở giao lộ của đường Sohier và đường Catinat nối dài (nay là đầu đường Võ Văn Tần) để cấp nước cho cư dân Sài gòn. Cuối cùng, vào ngày 11 tháng 4 năm 1880, vào một ngày chủ nhật lễ Phục sinh, Thống đốc Nam Kỳ Charles Le Myre de Vilers và giám mục Isodore dự lễ khánh thành nhà thờ.
Suốt những năm sau đó, ngôi nhà thờ lộng lẫy xây bằng gạch, đá rất được người dân Saigon yêu thích cho đến một ngày người ta phát hiện ra nó bị nghiêng về một bên. Trong tạp chí du lịch Tour du Monde năm 1893, nhà báo Pierre Barrelon cho biết “một trong hai tháp của nhà thờ bị sụt lún nên nhà thờ ở Saigon có hai ngọn tháp không đều nhau giống như Nhà thờ Đức Bà ở Paris”. Người ta vội vã tìm cách khắc phục, nhưng tình trạng vẫn không khả quan hơn nên suốt thời kỳ Pháp thuộc, nhiều người vẫn chế nhạo “Nhà thờ nghiêng ở Saigon”.
Chính phủ đã chi 2,5 triệu franc, một chi phí được cho là “sự hoang phí điên rồ”, để xây ngôi nhà thờ bằng gạch đỏ trên nền móng đá hoa cương đen dài 91 m và rộng 35,5 m. Bên trong nhà thờ có 56 cửa sổ được kiến trúc sư Lorin de Chartres lắp những tấm kính màu vẽ những nhân vật và những cảnh trong Kinh thánh. Hai tháp chuông ở mặt tiền của nhà thờ có 6 cái chuông bằng đồng được đúc năm 1879 tại Pháp, có tiếng vang xa tới 10 km. Năm 1892, hai ngọn tháp bằng thép được xây thêm, được mệnh danh là “những mũi tên thép của Nhà thờ Saigon”…
Vào ngày 10 tháng 3 năm 1902, Toàn quyền Paul Doumer chủ trì lễ dựng bức tượng đầu tiên trước nhà thờ. Bức tượng do Edouard Lormier thiết kế và do xưởng Maison Barbedienne chế tác là bức tượng đồng Giám mục Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) cầm tay Hoàng tử Cảnh, và từ lúc ấy công trường trước nhà thờ được gọi là công trường Pigneau de Béhaine. Bức tượng Pigneau de Béhaine đã được tháo dỡ vào những ngày Cách mạng Tháng Tám 1945 và công trường được đặt tên lại là Công trường Hòa Bình…”.
(Exploring Saigon- Chợ Lớn, trang 71, 72, 74)
HUỲNH DUY LỘC

Ảnh: Nhà thờ Đức Bà Saigon

Tòa án Nhân dân TP.HCM: Công trình hơn 140 năm giữa trung tâm Sài Gòn

Giữa trung tâm TP.HCM, trụ sở Tòa án Nhân dân TP.HCM mang vẻ cổ điển Pháp, lưu giữ dấu ấn hơn 140 năm lịch sử tư pháp và kiến trúc đô thị.

Trụ sở Tòa án Nhân dân TP.HCM qua 140 năm tồn tại

Tọa lạc trên khu đất 4 mặt tiền bao quanh bởi các tuyến đường Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Du, Nam Kỳ Khởi Nghĩa và Lý Tự Trọng, trụ sở Tòa án Nhân dân TP.HCM từ lâu đã trở thành một điểm nhấn kiến trúc giữa lòng thành phố. Công trình này được xem là một trong những di sản kiến trúc có giá trị của Sài Gòn - TP.HCM.

Sự hiện diện của Palais de Justice de Saigon (tên gọi thời Pháp thuộc) đánh dấu giai đoạn xác lập hệ thống tư pháp kiểu Tây phương tại Nam Kỳ, đồng thời phản ánh trình độ kỹ thuật và tư duy thẩm mỹ vượt thời đại của các kiến trúc sư người Pháp cuối thế kỷ 19.

Trụ sở Tòa án Nhân dân TP.HCM có lịch sử hơn 140 năm tồn tại

ẢNH: PHẠM HỮU

Với hơn 140 năm tồn tại, tòa nhà đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chính thức công nhận là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia vào năm 2012.

Lịch sử kiến trúc của trụ sở Tòa án Nhân dân TP.HCM bắt đầu từ những năm đầu thập kỷ 1880, khi chính quyền thực dân Pháp khởi công xây dựng công trình này vào năm 1881 và chính thức hoàn thành năm 1885.

Tòa nhà được thiết kế bởi kiến trúc sư Bourard, một người am tường về phong cách Tân Phục hưng vốn đang thịnh hành tại châu Âu lúc bấy giờ. Quá trình thi công được giám sát bởi kiến trúc sư Foulhoux, người giữ chức Giám đốc Sở Công chánh và là tác giả của nhiều công trình biểu tượng khác như Dinh Thượng Thơ hay Bưu điện Thành phố.

Thiết kế ban đầu của tòa nhà có hình chữ H (theo mẫu tự Latinh), một sơ đồ mặt bằng kinh điển cho các công sở lớn nhằm tối ưu hóa việc phân khu chức năng và lưu thông không khí. Cấu trúc này bao gồm hai tầng chính và một tầng hầm, với chiều cao mỗi tầng lên đến 5,2 m để tạo ra sự thông thoáng tuyệt đối trong môi trường nhiệt đới ẩm của Sài Gòn.


Tòa nhà được thiết kế bởi kiến trúc sư Bourard, một người am tường về phong cách Tân Phục hưng và được giám sát bởi kiến trúc sư Foulhoux, tác giả của nhiều công trình biểu tượng khác như Dinh Thượng Thơ hay Bưu điện Thành phố

ẢNH: PHẠM HỮU

Vật liệu xây dựng là một điểm nhấn đặc biệt thể hiện sự cầu kỳ và tính toán kỹ lưỡng của người Pháp. Hầu hết các loại gạch thẻ, ngói và các chi tiết kim loại đều được vận chuyển trực tiếp từ Pháp sang. Gạch được nung ở nhiệt độ rất cao, giúp giữ được độ bền vững gần như tuyệt đối sau hơn 140 năm. Thay vì xi măng hiện đại, các viên gạch được kết dính bằng hỗn hợp vôi, mật mía và các phụ liệu tự nhiên, tạo nên một kết cấu có khả năng đàn hồi và chịu lực cực tốt trước những biến động nhiệt độ và độ ẩm.

Sau Hiệp định Geneve năm 1954, Palais de Justice de Saigon được chính quyền Việt Nam Cộng hòa tiếp quản và đổi tên thành Tòa án Quốc gia. Trong giai đoạn này, cấu trúc nguyên thủy hình chữ H bắt đầu bộc lộ sự hạn chế về không gian trước áp lực gia tăng của lượng án và bộ máy nhân sự.

Vào những năm 1960, một tòa nhà mới được xây dựng thêm phía đường Nguyễn Trung Trực để mở rộng diện tích làm việc. Các kiến trúc sư thời bấy giờ đã rất tinh tế khi duy trì phong cách kiến trúc tương đồng với khối nhà cũ, đảm bảo tính thống nhất cho toàn bộ hệ thống công trình. Việc mở rộng này biến cấu trúc chữ H đơn giản ban đầu thành một tổ hợp kiến trúc phức tạp hơn nhưng vẫn giữ được sự uy nghiêm cần thiết của một cơ quan tư pháp.

Sau ngày 30.4.1975, chính quyền cách mạng tiếp quản toàn bộ hệ thống tòa án của chế độ cũ. Tháng 9.1976, Tòa án Nhân dân TP.HCM chính thức được thành lập.


Thiết kế ban đầu của tòa nhà có hình chữ H (theo mẫu tự Latinh), về sau được xây dựng thêm một tòa nhà nằm giáp đường Nguyễn Trung Trực

ẢNH: PHẠM HỮU

Từ Dinh Công lý đến Tòa án Nhân dân TP.HCM

Còn sách Kiến trúc Pháp - Đông Dương, dấu tích "Sài Gòn - Hòn ngọc Viễn Đông" mô tả chi tiết hơn về kiến trúc công trình tòa án này. Theo cuốn sách, trước kia tòa án độc lập với chính quyền, là một thiết chế chưa từng có ở Việt Nam thời phong kiến. Khi Pháp xâm chiếm Sài Gòn và Đông Dương, họ đã du nhập thiết chế này và tạo dựng những công trình kiến trúc biểu hiện cho quyền lực của công lý.

Một trong những kiến trúc đồ sộ điển hình là Palais de Justice - Dinh Pháp lý (hay còn gọi là Dinh Pháp lý, Tòa Pháp lý), đặt ở ngã tư Mac Mahon (Nam Kỳ Khởi Nghĩa) và La Grandière (Lý Tự Trọng).

Cổng vào của tòa án nằm giữa 2 nhà vuông kiểu dáng oai nghiêm là nơi tiếp nhận giấy tờ. Nổi bật ở cổng vào là 2 trụ to lớn và uy nghi, có nhiều họa tiết thiết kế trang trọng.

Khung cảnh tòa án nhìn từ tầng 1, phía góc trái

ẢNH: PHẠM HỮU

Trên đầu mỗi trụ là đầu tượng của 2 phụ nữ Pháp đội nón sắt theo kiểu vệ binh danh dự của nền Cộng hòa sau Cách mạng Pháp 1789. Bệ của 2 đầu tượng là trang sách mở ra, tượng trưng cho văn bản luật pháp. Dưới đó là phù điêu đầu sư tử - biểu tượng truyền thống của châu Âu về sự trung thành và quyền uy. Mỗi đầu sư tử ngậm dây treo tấm khiên có khắc chữ R và F lồng vào nhau (viết tắt của hai chữ République Français - Cộng hòa Pháp), kèm thanh gươm bắt chéo - hình ảnh của quốc huy Pháp thời ấy. Bốn cánh cửa sắt chạm trổ ở cổng vào là tác phẩm đúc tinh xảo với nhiều hoa văn trang trọng.

Sau cổng vào là một sân rộng dẫn đến một dãy nhà 2 tầng cao hơn 12 m, xếp hình các gian cũng như các ô cửa hành lang rất chỉn chu và cân đối nhằm biểu đạt sự công bằng, minh bạch.

Ở tầng dưới, hành lang bao quanh có các khung cửa lớn hình vòm cung, còn trên tầng lầu mỗi khung lại gồm 2 cặp trụ đỡ là cột cuốn thư thức Ionic mạnh mẽ. Trên vách tường mỗi đầu hồi hai cánh nhà có phù điêu theo chiều dọc thể hiện hình dây nguyệt quế treo với hình tượng chiếc cân nằm giữa là biểu tượng cho ngành tòa án.

Đặc biệt, ở mặt tiền trung tâm tầng hai, dưới mái nhà lợp ngói là trần nhà hình chữ A - kiến trúc truyền thống Hy Lạp. Tại đây thể hiện phù điêu hình tượng Nữ thần Công lý theo thần thoại Hy Lạp.


Hai chữ "Pháp - Đình" được chạm khắc trên cổng chính dẫn vào tòa nhà

ẢNH: PHẠM HỮU

Hai bên tượng Nữ thần có thêm tượng một người đàn ông và người đàn bà mặc trang phục Việt cổ truyền.

Tâng trệt tòa nhà là nơi đặt các phòng xử án rộng rãi với cửa vào và nội thất được thiết kế trọng thể. Ở tầng trệt, điểm nhấn trong không gian đại sảnh là 2 cầu thang lớn chạy song song dẫn lên tầng trên. Còn tầng trên là nơi đặt các phòng làm việc có kiểu cách trang trí tương tự.

Ở tầng trên, trước cửa 2 phòng lớn đối diện nhau có đặt các tượng Nữ thần Công lý cầm gươm bằng đá cẩm thạch đen. Trần nhà tầng trên có phù điêu trang nhả, được đỡ bởi các cột thức Corinth quý phái.

Cả tầng trên và tầng dưới tiếp tục có các phù điêu, họa tiết liên quan hình tượng thần Công lý cùng huy hiệu ngành tòa án và các hoa văn châu Âu quý phái trang trí ở hành lang và các cửa phòng. Tuy vậy, một số nơi có điểm xuyết các họa tiết bản địa như tàu lá chuối, cành cọ. Tầng hầm của tòa nhà cũng rất rộng lớn là nơi lưu trữ giấy tờ, kho tang vật, phòng thư ký.


Một trong các phòng xét xử ở tòa án

ẢNH: PHẠM HỮU

Dinh Pháp lý được xây dựng trong vùng quy hoạch là khu đầu não ở Sài Gòn, gần bên Dinh Thống đốc Nam Kỳ (nay là Bảo tàng Thành phố) và Khám lớn Sài Gòn (Thư viện Khoa học tổng hợp). Tòa án tại đây không chỉ phụ trách Sài Gòn mà còn phụ trách các loại án lớn của cả Nam kỳ. Về sau, nơi đây còn thực hiện nhiệm vụ là Tòa thượng thẩm Đông Dương.

Sau năm 1954, trụ sở Dinh Pháp lý được gọi là Pháp đình Sài Gòn, phụ trách công việc tòa án cho cả miền Nam. Vào những năm 1960, phía mặt đường Nguyễn Trung Trực, có thêm dãy nhà mới được kiến trúc sư Đồ Bá Vinh thiết kế với lối kiến trúc hài hòa với dãy nhà cũ.

Theo Thanh Niên 



Vào một đêm mưa bão cách đây đã nhiều năm, có một cặp vợ chồng già bước vào gian tiền sảnh của một khách sạn nhỏ ở thành phố Philadelphia của Mỹ và hỏi thuê phòng. Họ ghé vào tránh bão và hy vọng có thể mướn được căn phòng trọ qua đêm.
Tiếp đón họ là một chàng trai có nụ cười dễ mến. Chàng trai giải thích rằng trong thành phố của họ đang có ba hội nghị lớn nên tất cả các phòng đều đã có người thuê.
“Tôi rất lấy làm tiếc vì tất cả các phòng trong khách sạn đều đã có người thuê”, chàng trai ngập ngừng một lát rồi nói tiếp, “Nếu thời tiết tốt, tôi sẽ gửi hai vị đến một khách sạn khác, nhưng làm sao tôi có thể để một đôi vợ chồng đáng mến như hai vị ra ngoài trong trời mưa gió như thế này vào lúc một giờ khuya được?
Hai vị có thể ở tạm trong phòng của tôi được không? Nó không phải là phòng sang trọng gì cho lắm, nhưng nó cũng gọn gàng và sạch sẽ. Vì tôi phải trực vào khoảng thời gian này nên tôi có thể nghỉ ngơi ở đây cũng được. Xin ông bà đừng ngại”.
Cặp vợ chồng rất biết ơn chàng trai trẻ và nhận lời qua đêm trong căn phòng đó. Chàng nhân viên nhìn cặp vợ chồng già mỉm cười và họ cũng mỉm cười lại với anh.
Nhiều năm sau đó, khi chàng trai trẻ dường như đã quên mất câu chuyện này, thì bất ngờ, anh nhận được một lá thư kèm cặp vé máy bay khứ hồi. Lá thư là từ cặp vợ chồng già. Họ nhắc lại đêm mưa bão hôm đó với lòng biết ơn sâu sắc cùng lời mời cậu đến thăm New York.
Chàng trai trẻ có đôi chút ngạc nhiên. Cả đêm đó, cậu không ngủ được và nằm suy nghĩ ngẩn ngơ: có lẽ ngày mai họ sẽ dẫn mình đi thăm thành phố một vòng và dùng bữa ở một nhà hàng sang trọng nào đó chăng? Nhưng nghĩ lại, cậu thấy mọi thứ có vẻ hơi quá, chỉ là một sự giúp đỡ nhỏ thôi mà, liệu có cần phải tới mức như vậy không?…
Sáng hôm sau, cậu đáp máy bay xuống New York. Cặp vợ chồng già có vẻ như đã đứng đợi cậu ở đó từ lâu. Họ mỉm cười, vẫy tay chào từ xa và đón cậu bằng một chiếc xe sang trọng. Cậu mỉm cười chào họ và cảm thấy có chút hồi hộp.
Sau khi đi qua vòng vèo qua vài con phố, cặp vợ chồng già đưa cậu tới góc ngã tư đại lộ Fifth Avenue và đường số 33. Bước xuống xe, người chồng đưa tay chỉ tòa nhà tráng lệ mới xây ở đó – một cung điện toàn bằng đá đỏ với những ngọn tháp vươn thẳng trên nền trời xanh thẳm rồi, nói với chàng trai trẻ: “Đây là tòa khách sạn mà tôi xây cho cậu. Tôi hy vọng cậu có thể quản lý nó”.
“Ông không đùa đấy chứ?” – Cậu ngỡ ngàng.
“Không. Đây là một đề nghị hoàn toàn nghiêm túc“, người chồng già trả lời bằng một giọng chắc nịch cùng nụ cười thấp thoáng trên môi.
Công trình tráng lệ kia chính là khách sạn nổi tiếng Waldorf Astoria – nơi tụ họp của tầng lớp quý tộc lớn của New York vào thời điểm đó. Đây cũng là nơi mà các nhân vật cao cấp toàn thế giới thường xuyên lui tới nghỉ ngơi, đặc biệt là các Tổng thống Mỹ khi đang còn tại chức.
Người đàn ông già trong câu chuyện này chính là William Waldorf Astor của dòng họ Astor, một trong những gia đình giàu có nhất ở New York vào thế kỉ đó. Còn chàng trai tốt bụng kia chính là George Charles Boldt – vị giám đốc đầu tiên của khách sạn này!
Trái tim của những người có tấm lòng trắc ẩn giống ngọn đèn chiếu rọi tứ phương, không chỉ sưởi ấm cho người khác mà còn sưởi ấm cho chính tâm hồn họ.
Sưu tầm




22 tháng 3 2026

CÔNG CHÚA ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM SỞ HỮU TẤM BẰNG THẠC SĨ TẠI PHÁP HƠN 100 NĂM TRƯỚC LÀ AI ????

 


​Trong dòng chảy của sử Việt, có những cái tên bị lãng quên bởi thời gian và khoảng cách địa lý, nhưng cốt cách của họ thì vẫn luôn lấp lánh. Đó chính là Công chúa Như Mai (tên đầy đủ: Hàm Nghi Như Mai) – trưởng nữ của vị vua yêu nước Hàm Nghi.

🎓 Một đóa sen thanh cao nở giữa trời Tây, mang trong mình dòng máu của vị vua yêu nước Hàm Nghi. Hãy cùng ngược dòng lịch sử để khám phá về cuộc đời đầy nghị lực của Công chúa Như Mai! 🇻🇳✨"

​1.Thân thế "lá ngọc cành vàng" giữa chốn lưu đày.

- Công chúa Nguyễn Phúc Như Mai (阮福如梅, 1905–1999) là trưởng nữ của vua Hàm Nghi và vương phi Marcelle Laloë, một phụ nữ người Pháp. Bà là một trong những nhân vật xuất sắc và hiếu thảo nhất của hoàng tộc triều Nguyễn sống lưu vong tại Pháp.
- Công chúa Như Mai sinh tại Algiers (thủ đô Algérie), trong thời gian vua Hàm Nghi bị thực dân Pháp đưa đi lưu đày biệt xứ.
- Là công chúa đầu tiên và duy nhất của triều Nguyễn đỗ thạc sĩ Nông lâm tại Pháp, và còn tốt nghiệp thủ khoa, vượt qua nhiều sinh viên Pháp.
- Sau đó, bà tiếp tục học thêm và lấy bằng về Hóa học và Hóa sinh học.
- Làm việc tại Viện Nghiên cứu Nông nghiệp Pháp, rồi chuyển đến tỉnh Dordogne và Corrèze, nơi bà hỗ trợ người dân địa phương kỹ thuật trồng trọt.
- Cả đời không lấy chồng để phụng dưỡng cha mẹ, thể hiện lòng hiếu thảo sâu sắc.
- Sau khi vua Hàm Nghi mất, bà cùng các em Như Lý và Minh Đức đưa hài cốt vua từ Algerie về Pháp, an táng tại làng Thonac, tỉnh Dordogne.
- Một người phụ nữ tài giỏi, khiêm tốn và đầy lòng yêu nước – công chúa Như Mai là biểu tượng đẹp của trí tuệ và đạo hiếu Việt Nam nơi đất khách quê người.
- Dù sống xa Tổ quốc, nhưng ngay từ nhỏ, bà đã được nuôi dạy trong một môi trường giáo dục nghiêm cẩn của phương Tây kết hợp với lòng tự tôn dân tộc sâu sắc từ người cha vĩ đại là ​Vua Hàm Nghi – một tâm hồn nghệ sĩ và một trái tim yêu nước nồng nàn – đã truyền cho con gái mình nghị lực phi thường. Ông không muốn các con mình chỉ là những "ông hoàng bà chúa" hữu danh vô thực, mà phải là những người có tri thức để ngẩng cao đầu với thế giới.

​2. Nữ Thạc sĩ đầu tiên trong lịch sử.

- ​Vào đầu thế kỷ 20, khi tư tưởng "trọng nam khinh nữ" vẫn còn nặng nề và giáo dục cho phụ nữ chưa được coi trọng, Công chúa Như Mai đã tạo nên một kỳ tích chấn động.
- ​Học vấn đỉnh cao: Bà không chỉ thông thạo nhiều ngoại ngữ như tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Ả Rập và tiếng Việt (Công chúa được sinh ra và sống tại Algiers (Algérie) — một quốc gia nói tiếng Ả Rập). Bà còn dấn thân vào những ngành khoa học khô khan mà ngay cả nam giới còn e ngại.
- ​Kỳ tích: Như Mai chính là Công chúa Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp Thạc sĩ (Thạc sĩ Nông nghiệp) tại Pháp. Bà đỗ đầu khóa tại Viện Khảo cứu Nông nghiệp Quốc gia Pháp (nay là INRAE) – một thành tích mà ngay cả những nam nhân thời đó cũng phải ngả mũ thán phục.

​3. Một đời thanh cao và trái tim hướng về nguồn cội.

- ​Dù mang danh công chúa và có học vị cao, bà Như Mai chọn lối sống giản dị, cống hiến hết mình cho khoa học. Bà đã dành nhiều năm nghiên cứu các giống cây trồng, góp phần không nhỏ vào ngành nông nghiệp của nước Pháp và Algérie thời bấy giờ.
- ​Điều khiến người ta xúc động nhất chính là cốt cách của bà. Suốt cuộc đời, dù sống trong nhung lụa hay khi gia đình gặp biến cố, bà vẫn giữ gìn phong thái của một công chúa phương Đông: đoan trang, uyên bác và đầy lòng nhân ái.
- Bà cũng chính là người đã chăm sóc vua Hàm Nghi trong những năm tháng cuối đời tại biệt thự Gia Long (Algérie), cùng ông chia sẻ nỗi nhớ quê hương Việt Nam da diết.

​4. Di sản còn mãi với thời gian.

• Trong suốt thời gian học tập và làm việc, bà luôn giữ gìn văn hóa Việt, mặc trang phục truyền thống theo ý nguyện của vua cha.
- Bà qua đời năm 1999 tại Corrèze, nước Pháp (hưởng thọ 94 tuổi), được an táng trong khuôn viên Vua cha, mẹ và em trai. Bà ra đi nhưng đã để lại một tấm gương sáng ngời về tinh thần cầu tiến, hiếu học của người phụ nữ Việt Nam.
- Bà được người Pháp trìu mến gọi là “Princesse d’Annam” – Công chúa An Nam.
- Lâu đài De Losse của bà ở Dordogne được xếp hạng di tích văn hóa lịch sử của Pháp.
- Bà chứng minh rằng: Dù ở bất cứ đâu, dù trong hoàn cảnh nghiệt ngã nhất, tri thức và nhân cách chính là "vương miện" quý giá nhất của một người phụ nữ.

Từ FB Dieu Le









Có một người đàn ông trong lịch sử La Mã đã sống cả cuộc đời mình xoay quanh một điều duy nhất: ăn uống. Không phải để no, mà để tận hưởng đến tận cùng. Tên ông là Marcus Gavius Apicius.
Apicius sống vào thời hoàng đế Tiberius, thế kỷ I sau Công nguyên. Ông không phải là đầu bếp theo nghĩa thông thường, mà là một người sành ăn đến mức cực đoan. Tài sản của ông – khoảng 100 triệu sestertii – được đổ vào những bữa tiệc, nguyên liệu hiếm và những thử nghiệm ẩm thực xa xỉ. Khi quà tặng từ triều đình và nguồn thu cạn dần, ông vẫn tiếp tục sống như vậy, như thể việc ăn ngon quan trọng hơn bất kỳ điều gì khác.
Đến một ngày, Apicius nhìn lại tài sản còn lại: 10 triệu sestertii. Một con số mà bất kỳ ai thời đó cũng xem là giàu có. Nhưng với ông, nó đồng nghĩa với việc phải tiết chế, phải ăn ít đi, phải từ bỏ những gì mình theo đuổi cả đời. Và ông chọn kết thúc cuộc đời bằng thuốc độc, thay vì sống trong một “bàn ăn bị cắt giảm”.
Câu chuyện ấy được Seneca ghi lại với sự pha lẫn kinh ngạc và khinh miệt. Còn Pliny thì kể về những món ăn của Apicius như một bằng chứng cho sự mất kiểm soát: lưỡi chim hồng hạc, gan lợn được vỗ béo bằng quả sung khô rồi “tẩm” rượu mật ong trước khi giết – một dạng foie gras cổ đại. Từ phương pháp đó mà từ fegato trong tiếng Ý ngày nay ra đời, bắt nguồn từ ficus (quả sung). Một dấu vết ngôn ngữ còn sót lại của một lối sống cực đoan.
Apicius còn khuyên rằng cá mullus ngon nhất khi được “tắm” trong nước mắm làm từ chính loài cá đó trước khi nấu. Những ý tưởng ấy nghe như sự phóng đại, nhưng lại phản ánh đúng tinh thần La Mã thời bấy giờ: xa hoa, tò mò và luôn đẩy giới hạn đi xa hơn.
Cuốn sách mang tên ông – De Re Coquinaria – là cuốn sách dạy nấu ăn duy nhất còn tồn tại từ thế giới La Mã cổ đại, với gần 500 công thức, từ món súp lúa mạch đơn giản của binh lính đến những món cầu kỳ dành cho yến tiệc hoàng gia. Không ai chắc toàn bộ nội dung đều do chính Apicius viết, nhưng cái tên ấy đã trở thành biểu tượng cho nghệ thuật ẩm thực La Mã.
Điều khiến câu chuyện này còn được nhắc lại đến hôm nay nằm ở sự cực đoan của nó. Một người sẵn sàng tiêu hết gia sản vì ăn uống, rồi chọn cái chết khi không thể tiếp tục sống theo cách đó nữa. Nghe như một giai thoại được thêu dệt, nhưng lại mang một logic rất rõ ràng: với Apicius, ăn không phải là nhu cầu, mà là lý do tồn tại.
Và có lẽ cũng vì thế, cuốn sách nấu ăn duy nhất còn sót lại từ cả một đế chế lại gắn với tên của một con người đã sống – và chết – vì ẩm thực.


Chiếc Triumph flat tank cổ gợi mở cả một thời kỳ rất đặc biệt của lịch sử cơ khí Anh, khi xe máy còn ở buổi đầu định hình và mỗi chi tiết đều mang vẻ thẳng thắn, mộc mạc nhưng đầy khí chất. Bình xăng dẹt đặt ngang trên khung, bộ khung thép thanh mảnh, bánh nan hoa lớn, yên xe đơn giản, cụm đèn trước to bản và động cơ lộ thiên tạo nên một dáng hình rất dễ nhận ra của những mẫu mô tô đầu thế kỷ 20. Đó là kiểu thiết kế ra đời trong giai đoạn mà kỹ thuật được bộc lộ bằng chính cấu trúc của nó, không cần lớp che chắn cầu kỳ, nên càng nhìn càng thấy rõ sức hút của sự chân thật.
Triumph là một trong những tên tuổi lâu đời của ngành mô tô Anh. Từ chỗ khởi đầu là một hãng sản xuất xe đạp vào cuối thế kỷ 19, thương hiệu này dần bước vào thế giới xe gắn máy khi động cơ đốt trong trở thành lời hứa lớn của thời đại công nghiệp. Những chiếc flat tank xuất hiện vào các thập niên đầu 1900, khi xe máy vẫn còn rất gần với xe đạp gắn động cơ, nhưng đã bắt đầu cho thấy bản sắc riêng: mạnh mẽ hơn, đáng tin cậy hơn, đủ để trở thành phương tiện di chuyển thật sự chứ không chỉ là một thử nghiệm cơ khí. Chính giai đoạn ấy đã đặt nền móng cho danh tiếng bền bỉ của Triumph trong nhiều thập niên sau.
Điều làm nên vẻ quyến rũ của chiếc xe nằm ở sự cân đối giữa công năng và thẩm mỹ. Bình xăng phẳng, chi tiết đã tạo nên tên gọi flat tank, vừa là lựa chọn kỹ thuật quen thuộc của thời đó, vừa đem lại cho xe một đường nét thanh thoát rất riêng. Khung sườn mảnh khiến toàn bộ chiếc mô tô có cảm giác nhẹ, cao và thoáng. Những bánh xe lớn với nan thép đan dày gợi lại thời kỳ đường sá còn gồ ghề, khi độ đàn hồi và sự bền bỉ quan trọng hơn mọi yếu tố trang trí. Động cơ xi-lanh đơn đặt thấp trong khung cho thấy trình độ chế tạo của giai đoạn đầu: đơn giản, dễ sửa chữa, đủ mạnh để chở người trên những quãng đường chưa hề dễ đi. Chất liệu chủ đạo là thép, hợp kim và da, những vật liệu bền, thực tế, được chọn để phục vụ đời sống hằng ngày với tinh thần tiết chế mà tinh tế.
Dòng Triumph flat tank đầu thế kỷ 20 thường sử dụng động cơ xi-lanh đơn, dung tích phổ biến quanh khoảng 500cc, làm mát bằng không khí, truyền động bằng dây cu-roa hoặc xích tùy từng năm sản xuất và từng cấu hình. Công suất theo tiêu chuẩn thời đó không lớn nếu so với xe hiện đại, nhưng lại hoàn toàn đủ cho nhu cầu đi lại đường dài trên mặt đường còn thô sơ. Tốc độ tối đa thường chỉ ở mức khiêm tốn, song điểm đáng giá nằm ở mô-men kéo ổn định, khả năng vận hành bền bỉ và cấu trúc cơ khí dễ bảo trì. Hệ thống khung thép ống, bánh nan hoa đường kính lớn, lốp hẹp, phanh cơ bản và yên lò xo đem lại cảm giác rất đặc trưng của mô tô tiền chiến: thô ráp, trực diện nhưng giàu cá tính. Bình xăng dẹt đặt cao trên khung không chỉ là dấu ấn thị giác mà còn phản ánh tư duy thiết kế của một thời mà mọi thứ phải gọn, dễ chế tạo và thuận tiện cho việc sử dụng thực tế.
Những chiếc mô tô đời đầu, vẻ đẹp đến từ sự rõ ràng. Mọi thứ hiện ra trước mắt: ống khung, động cơ, truyền động, bình xăng, tay lái, chắn bùn. Không có phần thân vỏ để che bớt cơ khí, cũng không có những đường gân tạo cảm giác tốc độ. Bù lại là một sự mạch lạc đầy phẩm chất. Chính sự thẳng thắn ấy khiến Triumph flat tank mang dáng vẻ vừa mạnh mẽ vừa nền nã, như một quý ông Anh trong bộ trang phục cũ vẫn giữ nguyên phong thái. Nó không cần gây ấn tượng bằng sự dữ dội. Sức hút nằm ở chiều sâu lịch sử, ở lớp patina của thời gian, ở cảm giác từng con ốc, từng đoạn khung, từng vòng nan hoa đều đã đi qua một quãng đời dài.
Những người yêu xe cổ luôn dành cho flat tank một vị trí rất riêng vì đó là giai đoạn xe máy còn giữ trọn vẻ nguyên sơ. Đó là buổi bình minh của mô tô, khi ranh giới giữa phát minh và đời sống gần như không có khoảng cách. Một chiếc Triumph như thế từng thuộc về nhịp sống của những con đường cũ, của xưởng máy, của bàn tay thợ lành nghề và niềm tin mạnh mẽ vào tiến bộ cơ khí. Giá trị của nó hôm nay không nằm ở chuyện cũ hay hiếm, mà ở chỗ nó giữ lại được tinh thần của cả một nền văn hóa chế tác.
Triumph flat tank vì thế luôn có sức mê hoặc bền lâu. Nó là một cỗ máy, nhưng đồng thời cũng là ký ức bằng thép. Nó kể về thời kỳ xe máy còn nhẹ, thanh và thực tế; kể về lúc con người bắt đầu tin rằng chiếc máy nhỏ giữa hai bánh xe có thể thay đổi cách họ di chuyển và sống. Trong ánh nhìn hôm nay, chiếc xe ấy vẫn đẹp theo cách rất ung dung. Không phô trương, chỉ lặng lẽ hiện diện với hình hài gần trăm năm tuổi mà vẫn đủ sức kéo người xem trở về một thời mà cơ khí còn mang dáng vẻ của sự thanh lịch.

Pane e Vino - 3 Nguyễn Khắc Cần










CHÀO MỪNG QUÝ THẦY CÔ VÀ ĐỒNG MÔN TRƯỜNG HOÀNG DIỆU SÓC TRĂNG THAM QUAN, ỦNG HỘ HOANGDIEUTRUONGXUASAIGON.BLOGSPOT.COM. CHÚC THẦY CÔ VÀ ANH CHỊ EM NHIỀU SỨC KHỎE, THÀNH CÔNG TRONG CÔNG VIỆC.