Các chuyên gia hào hứng khi tìm thấy tàn tích một thành phố 4.000 năm tuổi - lớn hơn cả Tử Cấm Thành, đây có thể là vương quốc cổ nhất trong lịch sử quốc gia.
Di tích thành cổ Lương Chử nằm ở huyện Vũ Hàng, tỉnh Chiết Giang (Trung Quốc) có niên đại ít nhất 5.300 năm, trải rộng trên diện tích 2,9 triệu mét vuông với tường thành rộng từ 4 đến 6 mét. Và nền văn hóa Lương Chử tồn tại ở miền đông Trung Quốc đã tạo ra nhiều tác phẩm nghệ thuật tinh xảo phục vụ mục đích tôn giáo, nổi bật nhất là các hiện vật bằng ngọc bích.
Theo lời ông Liu Bin, một nhà nghiên cứu tại Viện Khảo cổ học Chiết Giang cho biết, dưới một thửa ruộng lúa, các nhà khảo cổ đã tìm thấy một con hào cổ rộng 40 mét được xây bằng đất cứng, bên trong có rất nhiều mảnh gốm vỡ.
Khi các nhà khảo cổ đào một hố sâu trên bờ phía đông của con hào chạy theo hướng bắc- nam, họ đã rất ngạc nhiên khi phát hiện ra một khu vực rộng lớn được xây dựng bằng đất và sỏi được nén chặt.
Các cuộc khai quật tiếp theo cho thấy, con hào này thực chất là một con kênh nằm bên ngoài thành phố, và khu vực phía đông của nó là tàn tích của một phần tường thành.
Các bức tường trải dài 1.500-1.700 m từ đông sang tây và 1.800-1.900 m từ bắc xuống nam. Thành phố cổ này có diện tích 2,9 triệu m2, lớn hơn Tử Cấm Thành 200.000 mét vuông.
Đây là thành phố thời kỳ đồ đá mới lớn nhất được phát hiện ở Trung Quốc, theo lời Yan Wenming, giáo sư tại Đại học Bắc Kinh.
"Thành phố này có thể là kinh đô của nước Lương Chửu", tờ Metropolitan Express News có trụ sở tại Hàng Châu dẫn lời ông Yan Wenming nói.
Ông Liu Qingzhu, giám đốc Viện Nghiên cứu Khảo cổ học thuộc Học viện Khoa học Xã hội Trung Quốc cho biết với tờ China Daily rằng, các nhà sử học từ lâu đã suy đoán về sự tồn tại của một vương quốc như vậy cách đây 4 thiên niên kỷ.
Tuy nhiên, ông nói rằng cần thêm bằng chứng để chứng minh thành phố này từng là kinh đô của vương quốc cổ. Nếu từng có một thế lực chính trị ở đó thì phải còn sót lại tàn tích của các cung điện. Ông nói thêm, nếu một thế lực chính trị từng tồn tại từ rất lâu ở bờ biển phía đông, thì việc nó biến mất như thế nào vẫn là một điều bí ẩn lớn.
Cận cảnh 'máy phát điện sinh học' mạnh bậc nhất thế giới động vật
Trong những dòng sông đục ngầu ở Nam Mỹ có một loài cá có thể tạo ra dòng điện mạnh đến mức làm choáng cả con người.
Ảnh: demorgen
Điểm khiến cá chình điện nổi tiếng toàn cầu là khả năng phát điện cực mạnh. Khoảng 80% chiều dài cơ thể của chúng được dành cho ba cơ quan điện chuyên biệt: cơ quan chính (Main organ), cơ quan Hunter và cơ quan Sachs. Các cơ quan này chứa hàng nghìn tế bào điện gọi là electrocyte, hoạt động giống như những viên pin mắc nối tiếp. Khi cá đồng loạt kích hoạt các tế bào này, chúng có thể tạo ra điện áp lên tới khoảng 600 volt để làm choáng hoặc hạ gục con mồi. Tuy điện áp rất cao, cường độ dòng điện và thời gian phát xung mới là yếu tố quyết định mức độ nguy hiểm.
Ảnh: marybatessciencewriter
Không chỉ dùng điện để săn mồi, cá chình điện còn sử dụng các xung điện yếu như một hệ thống "ra-đa sinh học". Trong làn nước đục, nơi tầm nhìn rất hạn chế, chúng phát ra các tín hiệu điện nhỏ rồi cảm nhận sự biến đổi của điện trường khi gặp vật cản hoặc sinh vật khác. Cơ chế này, gọi là điện định vị, giúp cá xác định phương hướng, tìm kiếm thức ăn và giao tiếp với đồng loại ngay cả trong bóng tối hoàn toàn.
Ảnh: Joel Sartore
Một tập tính săn mồi đặc biệt của Electrophorus electricus đã khiến các nhà khoa học kinh ngạc. Chúng có thể phát ra những xung điện cực ngắn để kích thích hệ thần kinh của cá hoặc động vật nhỏ, khiến con mồi co giật ngoài ý muốn. Chỉ cần phát hiện chuyển động này, cá chình điện sẽ lập tức tung ra cú sốc điện mạnh hơn để khống chế nạn nhân. Đây là một trong những ví dụ hiếm hoi về việc động vật chủ động điều khiển phản ứng thần kinh của con mồi từ xa.
Ngoài việc sở hữu "vũ khí điện" đáng gờm, cá chình điện còn có một đặc điểm khá bất ngờ: chúng phải thường xuyên ngoi lên mặt nước để thở. Khoảng 80% lượng oxy được hấp thu thông qua khoang miệng có nhiều mạch máu, chứ không phải mang. Vì vậy, cứ vài phút một lần, chúng lại trồi lên hít không khí rồi lặn xuống tiếp tục săn mồi.
Trong nhiều thế kỷ, cá chình điện đã thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học. Những nghiên cứu về cơ quan điện của chúng đã góp phần quan trọng vào việc tìm hiểu hoạt động của tế bào thần kinh, màng tế bào và cơ chế truyền tín hiệu điện trong sinh học. Đến nay, loài cá này vẫn là nguồn cảm hứng cho nhiều nghiên cứu về pin sinh học và công nghệ cảm biến.
Từ những dòng sông nhiệt đới của Nam Mỹ, Electrophorus electricus đã chứng minh rằng thiên nhiên có thể tạo ra những "nhà máy phát điện sống" hiệu quả đến mức con người vẫn không ngừng học hỏi từ chúng.
TB Tổng Hợp
Những mô hình chống ngập nổi tiếng ở các thành phố trên thế giới
Mối quan hệ giữa đô thị và nguồn nước vốn là một sự cân bằng mong manh. Quá ít nước sẽ dẫn đến cảnh quan khô cằn và nạn hạn hán; quá nhiều nước lại gây ra lũ lụt kinh hoàng, cuốn trôi nhà cửa, sinh mạng và cả sinh kế của con người.
"Đường ven sông (Greenway) Thung lũng Trí tuệ Lộc Khê (Luxi Zhigu) tại Thành Đô, Trung Quốc là một 'thành phố bọt biển' được thiết kế để thấm hút nước. (Ảnh: Costfoto/Future Publishing/Getty Images)
Năm 2022, những trận lũ lụt nghiêm trọng đã để lại sự tàn phá nặng nề trên khắp thế giới, từ Nigeria, Pakistan cho đến Úc. Và mọi chuyện được dự báo sẽ còn tồi tệ hơn. Một phần diện tích của các siêu đô thị tại châu Á có nguy cơ bị nhấn chìm dưới nước vào cuối thế kỷ này. Trong khi đó, các vùng duyên hải của Mỹ dự kiến sẽ phải đối mặt với mực nước biển dâng cao từ 25 đến 30 cm (10 - 12 inch) vào năm 2050.
Để tự bảo vệ mình, các thành phố thường có xu hướng tìm cách ngăn chặn dòng nước bằng giải pháp bê tông hóa: xây tường bao, đắp đập và các loại "cơ sở hạ tầng xám" khác.
"Cách tiếp cận này phát huy tác dụng tốt khi chúng ta có thể dự đoán được quy mô và lượng nước của các đợt lũ. Tuy nhiên, nó bộc lộ những hạn chế nghiêm trọng trước sự khó lường của khí hậu hiện nay," bà Elisa Palazzo, giảng viên cao cấp tại Trường Môi trường Xây dựng thuộc Đại học UNSW Sydney, chia sẻ với CNN.
Khi cuộc khủng hoảng khí hậu tiếp tục đe dọa các đô thị và làm thay đổi các đường bờ biển, nó đã thôi thúc một số nơi thử nghiệm một hướng đi khác. Những vùng đô thị dễ bị tổn thương này đang tìm cách "thuận theo" thay vì chống lại dòng nước bằng cách tích hợp nó vào cấu trúc đô thị – thấm hút bớt khi nước quá nhiều và tích trữ lại khi nước quá ít.
Liệu những nỗ lực này có thể mở rộng đủ nhanh để bắt kịp với quy mô khổng lồ của thách thức khí hậu mà các thành phố đang đối mặt hay không vẫn còn là một dấu hỏi. Nhưng chúng mở ra những tiềm năng mới khi các đô thị ngừng xem nước chỉ là một mối đe dọa cần được kiềm tỏa bằng bê tông.
Dưới đây là cách 5 thành phố đang nỗ lực định nghĩa lại mối quan hệ của họ với nước.
Bangkok, Thái Lan: Những công viên "má khỉ"
Công viên Trăm năm Chulalongkorn tại Bangkok. Ảnh do Panoramic Studio/LANDPROCESS cung cấp.
Bangkok – vốn được xây dựng trên vùng đồng bằng ngập lụt của sông Chao Phraya – cực kỳ dễ bị tổn thương trước thiên tai lũ lụt. Vào năm 2011, một trận lũ lịch sử đã nhấn chìm thành phố, cướp đi sinh mạng của hàng trăm người.
Áp lực ngày càng chồng chất khi mực nước ở Vịnh Thái Lan dâng cao, trong khi thành phố gần 11 triệu dân này – nằm chỉ cao hơn mực nước biển khoảng 1,5 mét – lại đang dần bị sụt lún do tốc độ đô thị hóa quá nhanh.
Kiến trúc sư người Thái Kotchakorn Voraakhom, người sáng lập công ty kiến trúc cảnh quan Landprocess, đã dành phần lớn tâm huyết của mình để tìm ra giải pháp thiết kế tối ưu thích ứng với lũ lụt. Bà đặt câu hỏi: "Sẽ ra sao nếu chúng ta có thể thiết kế các thành phố hòa hợp với thiên nhiên thay vì chống lại nó?"
"Biến đổi khí hậu đang khiến các thành phố bị sụt lún, và cơ sở hạ tầng hiện tại lại càng làm chúng ta dễ bị tổn thương hơn trước các trận lũ lớn," bà nói với CNN.
Một trong những giải pháp của bà dành cho Bangkok là Công viên Trăm năm (Centenary Park) tại Đại học Chulalongkorn ở trung tâm thành phố – một không gian xanh hiếm hoi tại một đô thị vốn rất thiếu mảng xanh.
Được hoàn thành vào năm 2017, công viên rộng 11 mẫu Anh (khoảng 45.000 mét vuông) này được thiết kế để đón và giữ nước. Xây dựng trên một khu đất dốc, công viên có thể dẫn nước qua các khu vườn và vùng đất ngập nước nhân tạo, sau đó đổ vào một hồ chứa.
Điều khéo léo nhất có lẽ nằm ở những góc khuất tầm mắt: Bên dưới công viên là các bể ngầm có thể chứa tới 160.000 gallon nước (khoảng 600.000 lít). Tính tổng cộng, toàn bộ công viên có thể giữ được tới 1 triệu gallon nước (gần 3,8 triệu lít).
Ý tưởng của công viên xuất phát từ khái niệm "má khỉ"(kaem ling – một triết lý quản lý lũ lụt nổi tiếng của Cố Quốc vương Thái Lan), bà Voraakhom chia sẻ với tờ New York Times. Loài khỉ thường tích trữ thức ăn trong má để ăn dần khi đói; và đó cũng chính là điều mà công viên này hướng tới đối với nguồn nước.
Không gian xanh cũng giúp giảm ô nhiễm không khí và giảm bớt hiệu ứng đảo nhiệt đô thị – hiện tượng xảy ra khi các thành phố có mật độ bê tông dày đặc giữ lại nhiệt lượng. Dù Công viên Trăm năm chỉ là một mảnh ghép rất nhỏ của thủ đô, bà Voraakhom khẳng định đây là một hình mẫu minh chứng cho những gì chúng ta có thể làm được.
Bắc Kinh, Trung Quốc: Những "thành phố bọt biển"
Dự án thành phố bọt biển tại Công viên sông Vĩnh Định sau khi được thiết kế lại. Ảnh do ông Du Khổng Kiên/Turenscape cung cấp.
Trung Quốc, quốc gia thường xuyên hứng chịu lũ lụt vừa đối mặt với hạn hán, từ lâu đã là bên tiên phong thúc đẩy mô hình "thành phố bọt biển". Ý tưởng cốt lõi là giúp các đô thị có thể thấm hút và giữ lại lượng nước dư thừa thông qua các thiết kế thuận tự nhiên, bao gồm vườn tược, mái nhà xanh, đất ngập nước và vỉa hè thấm nước – cho phép nước vừa có thể ngấm xuống lòng đất, vừa có lối thoát ra ngoài.
Vào năm 2015, chính phủ nước này đã công bố chương trình thí điểm gồm 16 thành phố bọt biển, một phần bắt nguồn từ trận lũ lụt kinh hoàng tại Bắc Kinh năm 2012 khiến gần 80 người thiệt mạng và gây thiệt hại trên diện rộng. Kể từ đó, rất nhiều dự án tương tự đã được triển khai thêm.
"Mọi thành phố đều đang cố gắng chống lại nước như chống lại kẻ thù," kiến trúc sư, giáo sư Du Khổng Kiên (Kongjian Yu) – người sáng lập công ty thiết kế Turenscape và là người tiên phong của phong trào thành phố bọt biển – cho biết. Mục tiêu của mô hình này là "trả lại không gian cho nước", ông chia sẻ với CNN.
Công viên sông Vĩnh Định (Yongxing River Park) ở Bắc Kinh là một trong nhiều dự án thành phố bọt biển của ông Du. Từ một kênh thoát nước bằng bê tông thô kệch trước đây, Turenscape đã biến nó thành một "dòng sông bọt biển", được thiết kế để kiểm soát nước lũ và lọc nước mưa.
Một hệ thống đường mòn kết nối toàn bộ công viên rợp bóng cây xanh, bao gồm cây liễu, táo dại và sơn tra. Nơi đây còn tích hợp các sân chơi cho trẻ em cũng như khu thể thao phức hợp.
Khi các thành phố bọt biển nở rộ tại Trung Quốc, đã có những hoài nghi đặt ra về khả năng chống chọi của chúng trước những trận mưa bão lớn hơn do biến đổi khí hậu gây ra. Vào năm 2021, thành phố Trịnh Châu thuộc tỉnh Hà Nam – một trong những nơi áp dụng sáng kiến thành phố bọt biển – đã trải qua trận mưa lũ lịch sử khiến gần 300 người tử vong.
Tuy nhiên, đối với ông Du, thành phố bọt biển là một sự sửa sai cần thiết cho những sai lầm trong quá trình phát triển đô thị trước đây, bao gồm việc xâm hại, phá hủy sông ngòi, các vùng đất ngập nước và việc quá phụ thuộc vào bê tông.
Amsterdam, Hà Lan: Biến nhà ở thành thuyền
"Cộng đồng nhà nổi tại khu phố Schoonschip, Amsterdam. Ảnh do Space&Matter cung cấp
Hà Lan, quốc gia với khoảng 1/3 diện tích nằm dưới mực nước biển, đang cố gắng chung sống với nước bằng cách xây dựng các công trình ngay trên mặt nước theo đúng nghĩa đen. Rotterdam là nơi có trang trại sữa nổi đầu tiên trên thế giới khai trương vào năm 2019, cùng các công viên nổi làm từ rác tái chế và thậm chí là một tòa nhà văn phòng nổi.
Tại khu phố Schoonschip ở phía bắc Amsterdam, công ty kiến trúc Space&Matter đã thiết kế một cộng đồng gồm 30 ngôi nhà trên mặt nước. Công trình hoàn thành vào năm 2021 và hiện là nơi sinh sống của hơn 100 cư dân.
"Tư duy đằng sau những ngôi nhà nổi đến rất tự nhiên khi bạn sống ở một thành phố như Amsterdam. Ở đây, nước và đất đan xen vào nhau," Jeroen Dellensen – một trong ba nhà sáng lập (cùng với Jaspar Jansen và Chris Collaris) của công ty thiết kế i29, đơn vị thiết kế một trong những ngôi nhà thuộc cộng đồng này – cho biết.
Được xây dựng bằng khung gỗ và cách nhiệt bằng vải đay, rơm rạ, các ngôi nhà được trang bị hệ thống bơm nhiệt và tấm pin mặt trời. Những khu vườn trên mái giúp làm mát nhà vào mùa hè và hấp thụ nước mưa.
Một cầu tàu linh hoạt kết nối các ngôi nhà lại với nhau và dẫn vào đất liền. Chúng được thiết kế để có thể nâng lên hạ xuống nhịp nhàng theo sự lên xuống của thủy triều.
"Schoonschip hướng tới việc trở thành một mô hình kiểu mẫu cho các vùng duyên hải và vùng đồng bằng đang chịu áp lực lớn. Thay vì chống lại mực nước biển dâng, chúng ta nên thích ứng và đón nhận nước như một điều kiện tất yếu của đô thị," Tom Kolnaar, giám đốc truyền thông tại Space&Matter, chia sẻ với CNN.
Ông Kolnaar cho biết thêm, cộng đồng này được thiết kế để chống chịu với sự thay đổi của mực nước trong vài thập kỷ tới, nhưng sẽ cần thêm sự hỗ trợ từ cơ sở hạ tầng bổ sung để chống chọi với mức nước biển dâng cao hơn nhiều được dự báo trong tương lai xa hơn.
Maldives: Mô phỏng thành phố theo rặng san hô não
Bản vẽ phối cảnh thành phố nổi Maldives. Ảnh do Waterstudio/Dutch Docklands cung cấp."
Hiếm có quốc gia nào phải đối mặt với rủi ro từ khủng hoảng khí hậu lớn hơn Maldives. Đại đa số quần đảo gồm hơn 1.000 hòn đảo lớn nhỏ ở Ấn Độ Dương này nằm cách mực nước biển chưa đầy 1 mét.
Nguy cơ ngập lụt kết hợp với nhu cầu nhà ở gia tăng đã thúc đẩy chính phủ bắt tay với nhà phát triển Dutch Docklands để triển khai dự án xây dựng một thành phố nổi hoàn toàn mới.
Đây là một kiểu "thành phố công nghệ... [nhưng] mang dáng dấp và hơi thở của một ngôi làng chài cổ ở Maldives," Koen Olthuis, nhà sáng lập Waterstudio – công ty thiết kế thành phố này, chia sẻ với CNN.
Nằm trên một đầm phá cách thủ đô Malé khoảng 10 phút đi thuyền, thành phố sẽ được cấu thành từ một chuỗi các khối nhà nổi được chế tạo tại địa phương rồi kéo ra biển. Chúng sẽ được neo chặt vào đáy biển bằng các cọc trụ phân tầng (có thể co giãn), cho phép thành phố dập dềnh theo sóng biển và thích ứng với mực nước biển dâng.
Ông Olthuis cho biết các tác động môi trường đã được đánh giá một cách nghiêm ngặt. Thiết kế của thành phố dựa trên cấu trúc của san hô não và khả năng tìm kiếm "sự cân bằng giữa không gian sống và độ mở", ông giải thích và nói thêm rằng nhìn từ trên cao, thành phố sẽ trông giống hệt một rặng san hô như vậy. Mục tiêu là tạo ra một đô thị có mật độ dân cư cao, vừa đủ không gian cho con người, vừa đảm bảo ánh sáng mặt trời vẫn có thể chiếu xuống đáy biển bên dưới. Các rặng san hô nhân tạo sẽ được gắn phía dưới thành phố để tạo dựng hệ sinh thái biển.
Việc xây dựng sẽ chính thức bắt đầu vào cuối năm nay và dự kiến hoàn thành vào đầu năm 2028.
Các mô hình thành phố nổi từng bị chỉ trích vì cung cấp giải pháp nhà ở quá đắt đỏ, nhưng ông Olthuis khẳng định tiêu chuẩn về giá cả hợp lý là yêu cầu tiên quyết do chính phủ Maldives đưa ra. Mục tiêu là 90% cư dân sẽ là người bản địa Maldives và giá nhà sẽ tương đương với các bất động sản cùng phân khúc ở Malé.
"Nhu cầu đối với các dự án kiểu này đang ngày một tăng," ông Olthuis chia sẻ khi công ty của ông nhận được rất nhiều lời đề nghị tư vấn về thành phố nổi: "Không phải vì người ta thích cảm giác sống trên nước, mà vì đó có thể là chiếc phao cứu sinh cho nhu cầu về không gian sống và sự an toàn trước những tác động của biến đổi khí hậu."
Copenhagen, Đan Mạch: Xây dựng "công viên khí hậu" khổng lồ
Enghaveparken, một 'công viên khí hậu' tại Copenhagen. (Ảnh: Astrid Maria Busse Rasmussen)
Vào năm 2011, Copenhagen đã phải hứng chịu một trận mưa như trút nước (cloudburst) – một trận bão mưa dồn dập và có sức tàn phá khủng khiếp, trút lượng mưa tương đương nhiều tháng chỉ trong vài giờ, khiến nhiều khu vực của thành phố ngập sâu tới 1 mét. Thiệt hại là vô cùng lớn, ước tính khoảng 1 tỷ USD.
Thảm họa này đã thúc đẩy thành phố nhanh chóng đẩy mạnh các kế hoạch ứng phó với khí hậu. Một trong những câu trả lời cho bài toán đó là Enghaveparken – một "công viên khí hậu" quy mô lớn.
Công viên này, vốn có lịch sử từ năm 1928, đã được công ty kiến trúc Tredje Natur (Third Nature) thiết kế lại. "Đó giống như một tình thế tiến thoái lưỡng nan," Fleming Rafn, đối tác sáng lập của Tredje Natur, chia sẻ với CNN. Họ phải tìm cách vừa bảo tồn các giá trị di sản của công viên, vừa chuẩn bị cho nó một tâm thế sẵn sàng đối mặt với các hiện tượng khí hậu cực đoan trong tương lai.
Bản thiết kế lại của công viên nằm ở chân một con đồi, hoạt động dựa trên ý tưởng tạo ra các khoang chứa nước.
Một sân chơi khúc côn cầu bằng bê tông được hạ thấp xuống 3 mét, đóng vai trò là điểm đón nước lũ đầu tiên. Sau khi sân đấu này đầy, nước sẽ tràn sang một vườn hồng trũng thấp và cuối cùng đổ vào hồ nước. Công viên cũng sở hữu các bể chứa ngầm giúp thu gom nước mưa từ các khu vực lân cận.
Ông Rafn cho biết một bức tường rào xung quanh công viên sẽ giúp giữ nước lại bên trong, và cấu trúc của nó được tính toán sao cho toàn bộ các cây cổ thụ lâu đời đều được giữ nguyên vẹn tại vị trí cũ.
Trong trường hợp xảy ra những trận thiên tai thế kỷ (đại hồng thủy 100 năm mới có một lần), toàn bộ diện tích 35.000 mét vuông của công viên có thể biến thành một hồ chứa nước khổng lồ từ đầu này đến đầu kia. Nước sẽ được giữ lại tại đây cho đến khi lũ rút bớt mới xả dần vào hệ thống cống ngầm của thành phố. Công viên này có thể gánh được khoảng 6 triệu gallon nước (khoảng 22,7 triệu lít).
Mục tiêu cốt lõi là kết nối lại con người với thiên nhiên và giúp họ nhận thức rõ hơn về tác động của khủng hoảng khí hậu, ông Rafn bày tỏ.
"Thật khó để chúng ta hiểu hết về khí hậu cũng như mối quan hệ của chính mình với nó. Làm sao mỗi cá nhân có thể thực sự tham gia vào một câu chuyện trừu tượng đến vậy? Tôi nghĩ việc hiện thực hóa nó một cách trực quan sinh động sẽ giúp đưa cuộc thảo luận này trở nên gần gũi, thực tế và mang hơi thở cuộc sống hơn."
Bí ẩn hiện vật 2.400 năm tuổi mô tả các vị thần trong cuộc chiến thành Troy
Một hiện vật bằng đồng khoảng 2.400 năm tuổi mô tả cảnh các vị thần mang xác con trai của Zeus đi trong cuộc chiến thành Troy huyền thoại.
Hai thiên sử thi kinh điển “Iliad” và “Odyssey” của Homer được coi là trụ cột của văn học phương Tây cổ đại. Những tác phẩm này đã truyền cảm hứng cho nhiều cuốn sách, phim và tác phẩm nghệ thuật trong gần 3.000 năm qua kể từ khi các thiên sử thi này chính thức được giới thiệu tới công chúng. Một bức tượng nhỏ bằng đồng, từng được gắn vào một chiếc hộp cổ, cho thấy sử thi Hy Lạp đã ảnh hưởng đến thẩm mỹ của người Etruscan.
Cụ thể, cista Giấc ngủ và Cái chết - tác phẩm điêu khắc tinh xảo khoảng 2.400 năm tuổi - hiện nằm trong bộ sưu tập của Bảo tàng Nghệ thuật Cleveland. Đây là một bộ tượng nhỏ bằng đồng được hàn lại với nhau để tạo thành một tay cầm trang trí cho cista - một chiếc hộp nhỏ, hình trụ, có nắp đậy được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau ở Ai Cập, Hy Lạp, La Mã thời cổ đại và Etruria - một vùng đất ở miền trung nước Italy ngày nay.
Cista hơn 2.000 tuổi mô tả cảnh 2 vị thần Hypnos và Thanatos khiêng thi thể Sarpedon. Ảnh: Alamy.
Hiện vật có chiều dài khoảng 18,5 x 18,3 cm. Các bức tượng nhỏ trên cista mô tả Hypnos (thần ngủ của Hy Lạp) và Thanatos (thần chết) đang khiêng thi thể của Sarpedon - một trong những người con trai của Zeus - người đã tử trận trong cuộc chiến thành Troy huyền thoại.
Mặc dù thần Zeus muốn cứu con trai nhưng không thể do Sarpedon bị thương quá nặng. Về sau, Zeus đã ra lệnh cho Apollo lấy mang thi thể của Sarpedon để giao cho hai anh em sinh đôi là Hypnos và Thanatos.
Nhà điêu khắc cổ đại đã khắc họa cảnh tượng thần Hypnos và Thanatos khiêng thi hài Sarpedon một cách "thành công rực rỡ khi nắm bắt được nỗi đau và cảm xúc trong một cảnh từ "Iliad" của Homer". Về mặt kỹ thuật, tác phẩm này chi tiết hơn nhiều so với một thiết kế cista điển hình của người Etruscan. Theo các nhà nghiên cứu, phần tay cầm này dường như được thiết kế gần như theo nguyên tắc công thái học bởi vì mái tóc rũ xuống của Sarpedon có thể được dùng làm chỗ cầm nắm.
Tuy nhiên, lý do người Etruscan áp dụng thẩm mỹ thị giác của sử thi "Iliad" vào nhiều tác phẩm nghệ thuật, chẳng hạn như tượng điêu khắc và tranh tường, vẫn chưa được làm sáng tỏ.
Đến nay, ngôn ngữ của người Etruscan mới chỉ được giải mã một phần nên hầu hết thông tin về nền văn minh cổ xưa này vẫn còn nhiều bí ẩn. Theo các nhà nghiên cứu, nền văn minh Etruscan hình thành khoảng năm 900 trước Công nguyên. Sử gia Herodotus tin rằng, người Etruscan đến từ Lydia ở Tiểu Á, khu vực không quá xa về phía Nam của thành Troy. Kết hợp với truyền thuyết sau này rằng Aeneas, một anh hùng thành Troy, đã lang thang đến Italy sau chiến tranh và giúp thành lập Rome, một số chuyên gia, bao gồm nhà ngôn ngữ học Robert Beekes, tin rằng nền văn minh Etruscan có thể có nguồn gốc từ người dân thành Troy hoặc các nhóm người chiến đấu ủng hộ thành Troy. Tuy nhiên, một nghiên cứu di truyền năm 2021 cho thấy người Etruscan có thể là các cư dân bản địa.
Người Etruscan có thể đã sử dụng các cảnh trong cuộc chiến tranh thành Troy huyền thoại để trang trí bình và hộp làm từ đồng bởi vì họ cảm thấy có sự đồng cảm với các nhân vật trong tác phẩm "Iliad". Tuy nhiên, họ cũng có thể đã tiếp thu phong cách nghệ thuật này vì cuộc chiến thành Troy là một chủ đề phổ biến trong nghệ thuật Hy Lạp thời bấy giờ. Các món đồ như bình và các tác phẩm khác được trang trí theo phong cách này cũng có thể đã đến tay người Etruscan thông qua các mạng lưới thương mại rộng lớn. Sau đó, người Etruscan thêm một số chi tiết riêng của họ vào câu chuyện về cuộc chiến thành Troy, đặc biệt tập trung vào các cảnh chết chóc và tàn bạo.
Tâm Anh (TH)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét