Hơn 30 người đàn ông Nhật Bản mặc khố dầm mưa, vật lộn trong bùn tại lễ hội hơn 200 năm tuổi ở Yotsukaido để cầu mùa bội thu và chúc trẻ em khỏe mạnh.
Tại sự kiện, những người tham gia được chia thành từng nhóm. Trong cái lạnh cắt da và cơn mưa nặng hạt, họ nghiến răng chịu rét, xếp thành các kim tự tháp người, lao vào nhau và quật ngã đối phương xuống bùn, trong những màn vật lộn mang ý nghĩa dâng lời cầu nguyện cho một mùa màng bội thu.
“Lễ hội này có lịch sử rất lâu đời”, anh Takeshi Seino, giáo viên tham gia sự kiện lần thứ ba, cho biết hôm 25/2 tại lễ hội Warabi Hadaka Matsuri ở thành phố Yotsukaido.
Theo ban tổ chức, lễ hội khỏa thân Warabi có lịch sử khoảng 200 năm và được duy trì với mong ước mùa màng trúng lớn. Nghi thức này bắt nguồn từ thời người dân làng Warabi - một ngôi làng nằm giữa những cánh đồng lúa - từng vật lộn cùng ngựa ngay trên ruộng, ông Kenji Tsuruoka, một trong các nhà tổ chức, cho biết.
Bên cạnh việc cầu mùa, người tham gia còn cầu chúc trẻ em lớn lên khỏe mạnh. Năm nay, một số người thậm chí mang theo con sơ sinh tới thửa ruộng bùn trước khi bước vào phần thi vật.
Dù khu vực này nay đã thay đổi nhiều so với 200 năm trước, khi phần lớn đất nông nghiệp không còn, truyền thống lễ hội vẫn giữ vai trò quan trọng đối với cộng đồng cư dân địa phương. “Năm nay không có nhiều mưa, nhưng hôm nay thì mưa như trút”, ông Kenji Nagata, 60 tuổi, một người tham gia, chia sẻ. “Hãy xem đó là cơn mưa may mắn”.
Một lý do khác khiến các lễ hội như Warabi có nguy cơ mai một đó là vấn đề già hóa dân số tại Nhật Bản. Vì thiếu người tham gia, một số lễ hội khỏa thân thậm chí phải nới lỏng quy tắc, cho phép cả phụ nữ tham gia trong vài năm gần đây.
Ngôi nhà này nằm trên đảo Elliðaey, thuộc quần đảo Vestmannaeyjar ở Iceland. Nó không phải boong-ke của tỷ phú, không phải nơi ẩn náu của người nổi tiếng, cũng không phải căn nhà của một con người sống đơn độc suốt đời. Nó được xây dựng vào năm 1953 bởi Hiệp hội săn chim puffin Elliðaey, như một căn nhà trú chân theo mùa cho những thợ săn và nhà nghiên cứu chim biển.
Ở đây không có điện. Không Wi-Fi. Không nước máy. Chỉ có gió, mây, cỏ, đá và tiếng chim hải âu. Nước được hứng từ mưa. Thực phẩm được mang theo từ đất liền. Mọi sinh hoạt đều dựa vào sự tối giản và khả năng thích nghi với thiên nhiên. Ngôi nhà không được dựng để ở lâu dài, mà để nghỉ ngơi tạm thời trong những chuyến đi săn, quan sát và bảo tồn quần thể chim puffin.
Elliðaey từng có người sinh sống từ thế kỷ 18. Nhưng đến những năm 1930, cư dân cuối cùng rời đảo vì điều kiện sống quá khắc nghiệt: không cảng, không đất canh tác, gió mạnh quanh năm, cách biệt hoàn toàn với đất liền. Kể từ đó, hòn đảo trở thành không gian của chim chóc và cỏ dại, một dạng “vườn hoang” nguyên thủy của Bắc Đại Tây Dương.
Chính sự vắng bóng con người ấy khiến ngôi nhà trông như bước ra từ truyện cổ tích. Nó không mang vẻ cô độc u ám, mà gợi cảm giác thanh khiết và yên tĩnh. Một kiểu yên tĩnh không phải trốn chạy xã hội, mà là quay về nhịp sống rất chậm của tự nhiên.
Nhiều tin đồn lan truyền trên mạng: đây là nơi ở của tỷ phú, căn cứ sinh tồn ngày tận thế, chỗ ẩn náu của người nổi tiếng như Billie Eilish… Tất cả đều không đúng. Ngôi nhà thuộc quyền quản lý của hiệp hội săn bắn và bảo tồn động vật, chỉ được sử dụng có kiểm soát cho mục đích sinh thái và nghiên cứu.
Điều khiến nơi này trở nên nổi tiếng không phải vì bí ẩn, mà vì vẻ đẹp của sự tối giản. Một căn nhà. Một hòn đảo. Một bầu trời. Một đại dương. Không biển quảng cáo, không tiếng xe, không ánh đèn nhân tạo. Nó giống như một bức tranh về khả năng con người có thể sống ít hơn, chậm hơn, và hòa vào thiên nhiên nhiều hơn.
Elliðaey nhắc ta rằng “cô đơn” không nhất thiết là trống rỗng. Đôi khi, đó chỉ là trạng thái khi ta không còn bị bao quanh bởi tiếng ồn. Và trong sự yên tĩnh ấy, con người mới nhận ra mình nhỏ bé đến nhường nào trước thiên nhiên rộng lớn.
Ngày 27/2/1902 Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer và bác sĩ Yersin đặt viên đá đầu tiên để xây trường Y khoa Đông Dương (Đại học Y Hà Nội ngày nay).
Hà Nội được chọn làm địa điểm thành lập trường vì trước hết, Hà Nội là đất thánh của giới sĩ phu Việt Nam, là cái nôi của nền giáo dục Hán học và tiêu biểu nhất cho cái xứ Đông Dương thuộc Pháp. Biên bản phiên họp thường kỳ năm 1898 của Hội đồng Tư vấn Tối cao Đông Dương (do Doumer thành lập) còn nói: "Bắc Kỳ không chỉ cho phép nghiên cứu các bệnh của vùng nhiệt đới Viễn Đông mà còn cả các bệnh riêng cho mùa lạnh. Hơn nữa, Bắc Kỳ tiếp giáp với Trung Hoa là nơi mà ảnh hưởng của nền Y học chúng ta đang ngày càng tăng cường. Đó là sự xâm nhập hữu hiệu nhất và cũng vinh dự nhất (nhấn mạnh của Henri Galliard, trong bài Yersin và việc thành lập trường Y Hà Nội - (Henri Galliard: Yersin và việc thành lập trường Y Hà Nội - Kỷ yếu trường Đại học Y Dược khoa Đông Dương, Hà Nội.- Tập 9.- 1944, tr 1).
Người ta lo đi tìm một hiệu trưởng cho trường Y tương lai. Những tài liệu lưu trữ cho thấy có nhiều người được giới thiệu. Brouardel, hiệu trưởng trường Đại học Y khoa Paris đề nghị năm người, trên hết là hai cựu nội trú đã qua thi tuyển sang Đông Dương là Degorce và Le Roy des Barres nhưng bộ trưởng bộ Thuộc địa Decrais phản đối: hiệu trưởng phải không được quá trẻ mà phải là người có đủ uy tín để đảm đương được nhiệm vụ. Do đó, toàn quyền Doumer đã chọn nhà khoa học gốc Thụy Sĩ 39 tuổi, học trò của Louis Pasteur, là Alexandre Yersin, khi đó đang làm giám đốc viện Pasteur Nha Trang. Alexandre Yersin là người đã tìm ra vi khuẩn dịch hạch trong một đại dịch tại Hồng Kông năm 1894.
Trong ý kiến gửi lên toàn quyền Đông Dương, Yersin đã xác định rõ mục đích và yêu cầu của nhà trường: trường Y Đông Dương phải là nơi vừa đào tạo, vừa nghiên cứu khoa học, tiến tới trở thành một trung tâm khoa học có tầm cỡ tại Bắc Kỳ. Do đó, Yersin yêu cầu phải xác nhận giá trị công ích của trường, hiệu trưởng phải do Tổng Thống Cộng Hoà Pháp bổ nhiệm theo giới thiệu của hiệu trưởng trường đại học Y khoa hoặc Giám đốc Viện Pasteur Paris và các giáo sư do tổng thống Pháp bổ nhiệm theo giới thiệu của hiệu trưởng trường Y Hà Nội. Nếu được như vậy thì trường Y Hà Nội sẽ có qui chế tương đương như các trường đại học y khoa ở chính quốc.
Kỳ thi tuyển đầu tiên vào trường Y khoa Hà Nội có 121 thí sinh Bắc Kỳ. Ngày đó, tiêu chuẩn cao nhất là biết ít nhiều tiếng Pháp. Hệ thống giáo dục phổ thông chưa được tổ chức (mãi năm 1907 mới thành lập trường Trung học Bảo Hộ, tức trường Bưởi). Theo kết quả công bố ngày 1.2.1902, có 15 người trúng tuyển, trong đó có 7 thí sinh người Hà Nội, tất cả đều đạt loại Xuất sắc (très bien).
Lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng toà nhà chính của trường (tức lễ thành lập) được tiến hành vào ngày 27 tháng Hai 1902 tại ấp Thái Hà (Nam Đồng), cách xa trung tâm Hà Nội, ngay hôm trước ngày khánh thành cầu Paul Doumer (tức cầu Long Biên). Chắc không phải ngẫu nhiên mà hai "dấu ấn văn hoá" này của toàn quyền Paul Doumer được trình làng vào cùng một dịp.
Năm học đầu tiên có 15 học sinh Bắc Kỳ, 5 học sinh Trung Kỳ, 8 học sinh Nam Kỳ và 1 học sinh Cao Miên (nhưng không thấy trong danh sách học bổng), tất cả 29 người 8 được họcbổng với mức 8 đồng một tháng, Theo Nguyễn Ngọc Lanh (do các cụ kể lại) thì 6 đồng bạc năm 1902 mua được 1.000 quả trứng hoặc 3 - 4 tạ gạo. Lương Tri huyện vào thời này cũng chỉ khoảng 25 đồng.
Địa điểm ấp Thái Hà không thuận tiện cho việc đặt trường. Khu vực này cách trung tâm thành phố tới 5 kilômét (hồi ấy chủ yếu đi bộ), nên ít bệnh nhân; nhiều ao hồ nên bệnh sốt ráe còn hoành hành (chỉ vài tháng sau khi khai giảng, hầu hết học sinh cũng như nhân viên người Âu đã bị sốt rét). Được ít lâu, có thể là vào cuối năm 1902, trường phải dọn về một ngôi nhà ở phố Bobillot (phố Lê Thánh Tông ngày nay) còn bệnh viện thực hành thì về đầu phố Armand Rousseau (phố Lò Đúc), có hai căn nhà bằng gỗ lợp lá gồi.
Theo đề nghị của học sinh, hiệu trưởng ký quyết định cho phép họ được đeo thẻ bài có khắc dòng chữ Hán "Học sinh Y khoa Đông Dương". Đây là một vinh dự rất lớn vì ngày đó, chỉ các quan Nam Triều mới được đeo thẻ bài. Đeo thẻ bài thì phải mặc Nam phục (áo dài may bằng the, đoạn, hoặc gấm, khăn xếp, dép da) để đeo vào khuy áo bên phải ngực. Mới vào học trường Y mà đã ra dáng một vị đường quan rồi. Hiệu trưởng tỏ ra rất hiểu và thông cảm với tâm lý học sinh nên mới có quyết định này. Có lẽ điều đó cũng phản ánh quan niệm của hiệu trưởng: trường sẽ đào tạo ra các trí thức cao cấp cho xã hội, không phải chỉ đơn giản là những anh y sĩ phụ việc như trong quyết định thành lập.
Ảnh: Thầy giáo người Pháp cùng các sinh viên Việt Nam trong lớp cơ thể học.
Nguồn: http://www.advite.com/ykhoahanoi.htm
Theo Lịch sử Việt Nam qua ảnh
Bức tượng đầu đá mô tả vị vua Anh thời Trung Cổ
Các nhà khảo cổ khai quật được bức tượng đầu bằng đá kích thước thật của một vị vua Anh Thời Trung Cổ, có niên đại khoảng 700 năm.
Điều đáng chú ý là bức tượng có đội vương miện. Đây là một nhân vật hoàng gia. Ảnh: @Bảo Tàng Quốc Gia Anh.
Hơn nữa, các nhà nghiên cứu nghi ngờ rằng, bức tượng đầu bằng đá của Vua Edward II có thể là một phần của bộ sưu tập các tác phẩm điêu khắc hoàng gia chưa từng được biết đến trước đây, từng nằm bên trong tu viện tráng lệ Shaftesbury phát triển thịnh vượng. Ảnh: @Bảo Tàng Quốc Gia Anh.
Di tích Maya cổ đại hé lộ bản đồ vũ trụ 3.000 năm tuổi
Di tích Maya ẩn chứa một bản đồ vũ trụ 3.000 năm tuổi, nó có thể nhìn thấy từ trên không trung.
Các nhà khảo cổ học đến từ trường Đại học Arizona đã phát hiện ra một trong những ví dụ sớm nhất được biết đến về quy hoạch đô thị thiêng liêng quy mô lớn ở châu Mỹ. Ảnh: @Đại học Arizona.
Tại Aguada Fénix, một địa điểm cổ đại ở Đông Nam Mexico, mạng lưới khổng lồ gồm các kênh đào, hành lang và nền móng dường như tạo thành một bản đồ vũ trụ. Ảnh: @Đại học Arizona.
Phát hiện này tập trung vào một công trình có hình chữ thập. Ảnh: @Đại học Arizona.
Được xây dựng từ năm 1.050 đến 700 Trước Công Nguyên, khu di tích rộng lớn này có niên đại trước cả chữ viết và các triều đại cai trị của người Maya. Ảnh: @Đại học Arizona.
Tuy nhiên, nó đòi hỏi sự tổ chức quy mô lớn và lao động tập thể, cho thấy sự kết hợp mạnh mẽ giữa kỹ thuật và các lý tưởng nghi lễ chung từ rất lâu trước khi các đền thờ và cung điện hoàng gia thống trị các thành phố Maya. Ảnh: @Đại học Arizona.
Trọng tâm là một bố cục hình chữ thập, với các trục dài chạy theo hướng Bắc - Nam và Đông - Tây, được đánh dấu bằng các hành lang cắt và đường đắp cao. Những đường này kéo dài từ một cao nguyên nghi lễ rộng lớn, được xây dựng dần dần qua nhiều thế kỷ, trải dài hàng dặm vào cảnh quan xung quanh. Theo nhóm khai quật do Tiến sĩ Takeshi Inomata dẫn đầu, những đặc điểm này tạo thành một trật tự biểu tượng rõ ràng, có khả năng kết nối các nghi lễ, chu kỳ theo mùa và sự di chuyển trong không gian. Ảnh: @Đại học Arizona.
Theo các nhà nghiên cứu từ Đại học Arizona, những người xây dựng này có thể thuộc về các cộng đồng Maya thời kỳ đầu nhưng không cho thấy dấu hiệu của tầng lớp thượng lưu. Thay vào đó, sự phối hợp của họ cho thấy một hệ thống thu thập theo mùa, sự liên kết nghi lễ và lao động tập thể được thúc đẩy bởi các ý tưởng vũ trụ học cao quý. Ảnh: @Đại học Arizona.
Thiên Đăng (Theo indiandefencereview)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét