.

.

a

Hoa đào nở, chim én về, mùa xuân lại đến. Chúc quý thầy cô và anh chị em đồng môn năm mới Bính Ngọ 2026 : - nghìn sự như ý, vạn sự như mơ, triệu sự bất ngờ, tỷ lần hạnh phúc.
THƯƠNG CHÚC THẦY CÔ, ANH CHỊ EM ĐỒNG MÔN TRƯỜNG HOÀNG DIỆU - MỘT NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026 AN KHANG THỊNH VƯỢNG - VẠN SỰ NHƯ Ý

28 tháng 6 2026

Nhân kỷ niệm 21/6 /1893 ngày khai sinh thành phố Đà lạt.



Dịch hạch là căn bệnh khủng khiếp nhất trong lịch sử loài người, có thời điểm làm giảm 2/3 dân số châu Âu và 1/3 dân số Trung Quốc. Chính bác sĩ Yersin là người đầu tiên tìm ra vi khuẩn này và các nhà khoa học về sau khống chế nó hoàn toàn. Yersin cũng là một câu chuyện thú vị khi cả cuộc đời trưởng thành của ông, đều gắn bó với 2 chữ Việt Nam. Tốt nghiệp tiến sĩ y khoa với đề tài bệnh Lao, nhưng Yersin và thầy hướng dẫn của mình là giáo sư Roux nổi danh với phát minh ra vắc xin bạch hầu. Thành tựu của ông khiến thiên tài Louis Pasteur chú ý và được nhận vào làm ở viện Pasteur Paris danh giá. Nhưng máu thám hiểm trong người khiến ông nằng nặc xin nghỉ việc để đi làm thuỷ thủ tàu viễn dương "dù chưa có kinh nghiệm đi biển bao giờ". Ông nói "đời mà không đi, thì còn gì là đời".
Các lần đi thám hiểm và quay lại Pháp, ông đều được Louis Pasteur "mời ăn tối và nghe báo cáo", "thấy thú vị trước các thông tin mới mẻ do Yersin kể". Pasteur yêu cầu ông hãy làm gì thì làm cho trọn vẹn để "vang danh thiên hạ, giúp nhân loại". Vâng lời thầy, Yersin xách đồ đạc lên tàu vượt ngàn hải lý, mặc cho gió bão khôn lường. Hình ảnh học trò khăn gói xuống thuyền dọc ngang quả đất sau khi học xong là hình ảnh vô cùng đẹp của những người có LÝ TƯỞNG SỐNG.
Sang Việt Nam, ông làm bác sĩ trên tàu giữa Sài Gòn, Manila, Hải Phòng rồi sau đó định cư ở Nha Trang, sau một lần tàu cập bến và ông phải lòng với cảnh sắc nơi đây. Đầu thế kỷ 20, ông tham gia hội đồng sáng lập và là hiệu trưởng đầu tiên của ĐH Y Khoa Đông Dương (nay là Y Hà Nội), xây dựng toàn bộ giáo trình sơ khởi và nhận thức y đức cho các thế hệ bác sĩ, quy hoạch các bệnh viện ở các tỉnh thành khắp Việt Nam theo khoảng cách địa lý để "ai bị bệnh cũng có chỗ gần nhất mà đến trị kịp thời".
Nhưng Hà Nội cũng chỉ có thể giữ chân ông được 2 năm. Ông quay trở lại Nha Trang, thực hiện chuỗi những ngày làm khoa học và thám hiểm khắp núi rừng Đông Dương. Ông là người đã tìm ra cao nguyên Lang Biang và quy hoạch Tp Đà Lạt, xây dựng viện Pasteur Đà Lạt và phát triển mạnh hơn cho viện Pasteur Sài Gòn, Hà Nội. Trại ngựa nuôi lấy huyết thanh sản xuất vắc xin của ông nằm ở suối Dầu là trại ngựa thuốc lớn nhất châu Á khi đó. Ông còn cho trồng cây ký ninh để trị bệnh sốt rét. Ông từng mong muốn Diên Khánh là thành phố dược phẩm, là nơi sản xuất thuốc men cho cả Đông Dương.
Ông cũng là người mang cây cao su, ca cao, cà phê (thậm chí ông cho thử nghiệm cây điều từ Brazil và tiêu đen từ Ấn Độ ở nông trại của mình), đến bây giờ chúng ta đã có hàng tỷ đô la xuất khẩu. Ông thử nghiệm nhiều giống cây ôn đới như cà rốt súp lơ su su lay-ơn cẩm tú cầu xà lách xông cà chua....(hầu như tất cả các loại rau củ mang tiếng Pháp đều là do ông và bạn bè đồng sự ông mang qua). Ông còn nuôi cừu trồng nho ở Phan Rang, nuôi đà điểu ở Ninh Hoà, thử nghiệm trồng quy mô lớn cây cà phê ở Lâm Đồng, Đăk Lăk và Pleiku. Ông cũng là 1 triệu phú nhờ trồng cao su xuất bán cho hãng lốp xe Michelin và là cổ đông chính của ngân hàng HSBC. Ông cho rằng "tôi phải kiếm tiền kiểu khác chứ không tài nào cầm được tiền của các bệnh nhân". Toàn bộ tiền lãi của ông đến nay vẫn còn và vẫn bí mật chuyển đều đặn về 1 quỹ từ thiện và quỹ nghiên cứu khoa học.
Ông sống 1 mình, giản dị ở Nha Trang đến cuối đời, 1 cuộc đầy ắp những chuyến đi thám hiểm và thành tựu. Nha Trang cũng là nơi tiếp cận điện ảnh đầu tiên của nước ta do ông mang về chiếu.
Có lần khi trẻ con vào nhà ông xem phim và nghịch phá những chậu hoa quý, gia nhân toan ra mắng nhưng ông bảo "đừng la trẻ nhỏ, nghe lớn tiếng chúng sẽ sợ". 1 lần ông lái xe hơi trên đường, 1 người dân bất cẩn lao vào xe ông và bị tai nạn. Dù lỗi của người đi bộ rành rành nhưng ông chạy xuống giúp họ băng bó, xin họ tha thứ và kiên quyết trả lại xe cho chính phủ, đi xe đạp, vì theo ông "dân chúng xứ này chưa quen luật lệ nên đi lại vô tư, mình đi xe đạp có va chạm thì cũng không gây thương vong cho họ". Có lần ông lên Tây Nguyên tìm thuốc, người dân tộc đã bắt ông, định hành quyết. Nhưng họ nhìn vào mắt ông, thấy một sự chân thành và thiện lương kỳ lạ, họ quyết định thả ông ra. Ông sau đó chữa trị bệnh cho cả buôn làng và gửi thuốc men lên cho họ đều đặn. Ngôi nhà của ông là trại tế bần khổng lồ cho người sa cơ lỡ vận, ốm đau, bệnh tật, đói kém....của khắp vùng, mở cửa suốt ngày suốt đêm. Ông không có vợ con vì dâng hiến phụng sự cả đời cho khoa học, nhưng người ta kính yêu ông như cha mẹ ruột.
Trong khi nhiều trí thức Việt Nam đi Pháp để hưởng thụ sự văn minh có sẵn của xứ người, ông như cá bơi ngược dòng. Dù quê hương ông là đất nước Thuỵ Sĩ giàu có và xinh đẹp, dù tốt nghiệp trường Y Paris và là một trong những nhà khoa học nổi tiếng nhất thế giới khi ấy, ông vẫn xuống tàu đi về phương Đông, một miền đất nghèo xa lạ. Ông đã chọn Việt Nam làm nơi sinh sống, làm việc và an nghỉ cuối đời. Ông luôn nói "tôi mãi mãi là một công dân Pháp, nhưng tôi yêu Việt Nam và tôi sẽ phụng sự cả tính mạng và cuộc đời tôi cho họ".
Đám tang ông là đám tang lớn nhất Việt Nam lúc đó. Giây phút cuối đời, ông nhờ người quản gia dìu ông ra phía cửa sổ, nhìn về phía biển, nơi ghi dấu 1 thời dọc ngang tuổi trẻ, rồi trút hơi thở cuối cùng. Nghe tin ông mất, người dân Nha Trang bỏ hết công ăn việc làm để lo hậu sự. Tàu bè ngoài biển vội vã cập bến xóm Cồn, ngưng mọi hoạt động đánh bắt trong nhiều ngày. Những phụ nữ tiểu thương bán cá đã bỏ hết cá mắm tiền bạc danh lợi mỗi ngày, bỏ cái nón lá quen thuộc để đeo khăn tang trắng xoá trên đầu, xuống đường đưa tiễn, khóc hết nước mắt. Người dân Hà Nội, Sài Gòn, Đà Lạt, các thành phố lớn khác châu Á yêu quý ông, nhất là người Hongkong, nơi ông đã thành công trong việc giúp hàng triệu người dân ở đây thoát khỏi nỗi kinh hoàng do dịch cúm. Úc từng mời ông sang thành lập viện Pasteur cho họ nhưng ông đã từ chối. Hongkong thì tìm mọi cách giữ ông lại, nhưng ông vẫn khăng khăng quay về dải đất hình chữ S mà ông trót yêu thương. Năm 1943, khi ông mất, trí thức toàn thế giới, đặc biệt giới Y khoa và giới thám hiểm đã bày tỏ sự thương tiếc vô hạn. Di chúc ông ghi giản dị "Tôi muốn được an táng ở Suối Dầu, mộ thật nhỏ và nằm úp xuống, đầu quay về phía biển. Ông Bùi Quang Phương (cộng sự lâu năm) đừng cho ai đem thi hài tôi đi nước khác. Mọi tài sản xin tặng hết cho Viện Pasteur và những người cộng sự lâu năm đã làm việc với tôi".
Nếu bạn đã từng 1 lần được tiêm chủng, chích ngừa hay thậm chí ăn cà rốt, uống cà phê, đắp mặt cà chua (trước đó thì người Việt chúng ta chỉ có cà pháo....để ăn với mắm tôm) thì hãy biết ơn Yersin. Công lao của ông với dân tộc này, với đất nước này là không bao giờ kể hết.
Các bạn có thể đọc thêm tư liệu về bác sĩ Yersin, có nhiều cuốn sách viết về ông. Đó là một người mà người Việt chúng ta phải mãi mãi nghiêng mình. Sách giáo khoa nên bổ sung nhiều bài học về ông để dạy ở các cấp học để thế hệ chúng ta mãi mãi biết ơn. Lòng biết ơn là thước đo của sự văn minh, ở mỗi cá nhân và cả dân tộc.
Và mỗi cá nhân, nếu tình cờ đọc được những dòng chữ trên thì hãy bắt chước ông ở tinh thần PHỤNG SỰ, CỐNG HIẾN. Không nhỏ hẹp, vun vén cá nhân, cái xe - cái nhà - miếng đất - bằng cấp - chức vụ - công danh, tiền tài mang về cho vợ cho con tầm thường nữa. Mạnh dạn vẫy vùng biển rộng trời cao, dấn thân vì MỘT LÝ TƯỞNG SỐNG của riêng mình. Cùng nhau MAKE VIETNAM BETTER.
Phàm làm người, ai càng sớm tìm được lý tưởng sống, thì càng có một cuộc đời ý nghĩa, trọn vẹn, không hối tiếc.
Sưu tầm

Bí ẩn những con ngựa được chôn cất cùng đội quân đất nung

Những con ngựa được chôn cất cùng với đội quân đất nung chứng tỏ giá trị của chúng trong nền văn minh Trung Quốc cổ đại.

Ít loài động vật nào có tác động đáng kể đến tiến trình lịch sử loài người như ngựa, chúng đóng vai trò trung tâm trong việc chuyển đổi quân đội, kinh tế, mạng lưới giao thông và thậm chí cả hoạt động giải trí.

Các nhà sử học Trung Quốc đã đưa ra giả thuyết rằng, sự thành thạo của triều đại Tần trong việc sử dụng ngựa đã cho phép nhà nước này thoát khỏi thời kỳ Chiến Quốc và cuối cùng cai trị vùng đất mà sau này trở thành đế chế đầu tiên của một Trung Quốc thống nhất (khoảng năm 221 đến 206 Trước Công Nguyên).


Những con ngựa được chôn cất cùng với đội quân đất nung chứng tỏ giá trị của chúng trong nền văn minh Trung Quốc cổ đại. Ảnh: @SCMP.

Du khách đến thăm Lăng mộ Tần Thủy Hoàng ở Thiểm Tây, tây bắc Trung Quốc, nổi tiếng nhất với đội quân đất nung cũng được chứng kiến tượng ngựa có mặt ở khắp mọi nơi. Khoảng 600 bức tượng đã được khai quật cho đến nay, cho thấy tầm quan trọng của chúng như một vật phẩm mà Tần Thủy Hoàng (trị vì 221–210 Trước Công Nguyên) sẽ trân trọng ở thế giới bên kia.

Nhưng không phải tất cả những con ngựa trong lăng mộ đều là giả, và có những khu chôn cất phụ chứa xương ngựa thật. Nghiên cứu cho thấy tất cả những con ngựa đều là ngựa đực, có kích thước lớn, với chiều cao trung bình là 1,4 mét. Chúng khoảng 10 tuổi khi chết, đúng vào thời kỳ sung sức nhất mới được chọn làm tùy tùng của hoàng đế ở thế giới bên kia.

Mời Quý Độc Giả cùng xem video: “Phát hiện quan trọng trong quá trình khai quật khảo cổ tại Di chỉ Mái đá Ngườm”. Nguồn video: @Báo và Phát thanh Truyền hình Thái Nguyên.

Thiên Đăng (Theo SCMP)

Phát hiện hố đen cổ đại ngủ say, nặng gấp 6 tỷ lần Mặt Trời

Phát hiện 'gã khổng lồ' ngủ say hơn 10 tỷ năm ánh sáng, quái vật vũ trụ nặng gấp 6 tỷ lần Mặt Trời.

Các nhà thiên văn học quốc tế vừa lập chiến công lịch sử khi phát hiện ra một hố đen ngủ đông xa xôi nhất từ trước đến nay trong thiên hà MRG-M0138, cách Trái Đất hơn 10 tỷ năm ánh sáng. Thiên thể khổng lồ này có khối lượng lớn gấp khoảng 6 tỷ lần Mặt Trời và được quan sát tại thời điểm vũ trụ mới chỉ tròn 3 tỷ năm tuổi.


Hình ảnh thiên hà đỏ MRG-M0138 bị biến dạng mạnh bị biến dạng mạnh.

Khác với các chuẩn tinh rực rỡ dễ phát hiện nhờ chủ động ăn vật chất, hố đen này đã đi vào giai đoạn hoàn toàn tĩnh lặng và không phát ra bất kỳ ánh sáng nào. Khám phá chấn động được công bố trên tạp chí Science đã chính thức phá vỡ kỷ lục về khoảng cách trước đó của một hố đen ngủ đông với hệ số lớn gấp 15 lần.

Kỳ tích từ kính viễn vọng James Webb và manh mối về sự tiến hóa vũ trụ

Để xác định khối lượng của quái vật vô hình này, các nhà khoa học đã sử dụng Kính viễn vọng Không gian James Webb (JWST) để theo dõi chuyển động của các ngôi sao xung quanh nó. Do khoảng cách quá xa xôi, đội ngũ nghiên cứu phải tận dụng hiện tượng thấu kính hấp dẫn từ một thiên hà trung gian để phóng đại hình ảnh lên tới 30 lần.

Đây là lần đầu tiên phương pháp động lực học sao được áp dụng thành công ở một khoảng cách cực hạn như vậy, mở ra cơ hội lập bản điều tra toàn diện về cách hố đen phát triển theo thời gian. Trước đây, thiên hà xa nhất từng được nghiên cứu bằng kỹ thuật đo đạc này chỉ nằm cách Trái Đất khoảng 700 triệu năm ánh sáng.

Đặc biệt, phát hiện này còn cung cấp những manh mối vô giá về mối liên kết chặt chẽ giữa khối lượng thiên hà và hố đen trung tâm trong vũ trụ sơ khai. Qua quan sát, các nhà khoa học nhận thấy cả hố đen này và thiên hà chứa nó đều đã ngưng sản sinh ra các ngôi sao mới.


Kính viễn vọng không gian JWST và hiện tượng thấu kính hấp dẫn lần đầu tiên đo được khối lượng của một lỗ đen ngủ đông từ vũ trụ sơ khai.

Giới chuyên gia tin rằng trong quá trình phát triển thần tốc trước đó, năng lượng khổng lồ mà hố đen giải phóng đã làm nóng hoặc trục xuất toàn bộ lượng khí cần thiết, từ đó chấm dứt hoàn toàn quá trình hình thành sao. Hiện tượng này giúp làm rõ vai trò của hố đen trong việc kìm hãm sự sống của thiên hà và cách chúng có thể tái hoạt động khi có nguồn vật chất mới chảy vào.

Trong tương lai, các nhà khoa học kỳ vọng những quan sát tiếp theo từ kính viễn vọng JWST sẽ tiếp tục khai quật được nhiều hố đen ngủ đông khác tương tự. Việc tìm thấy nhiều thiên thể cổ đại ở thời kỳ sơ khai sẽ giúp nhân loại hoàn thiện bức tranh về sự tiến hóa của toàn vũ trụ. Những "gã khổng lồ ngủ say" này hứa hẹn sẽ còn mang lại nhiều bất ngờ lớn cho ngành thiên văn học quốc tế.

An An - TechSciDaily


Vào ngày 16 tháng 11 năm 1992, một người làm vườn đã nghỉ hưu tên Eric Lawes bước vào một cánh đồng gần làng Hoxne, hạt Suffolk, nước Anh, mang theo một chiếc máy dò kim loại mà ông được tặng nhân dịp nghỉ hưu.

Ông không hề đi săn kho báu...
Người bạn của ông là Peter Whatling, chủ mảnh đất này, đã đánh rơi một chiếc búa đâu đó trên cánh đồng và nhờ Lawes giúp tìm lại. Chiếc máy dò gần như lập tức phát tín hiệu, nhưng thứ nằm dưới lòng đất không phải là chiếc búa.
Đó là vàng.
Lawes đào lên được vài chiếc thìa bạc và những đồng tiền vàng. Khi nhìn thấy những gì mình đang cầm trên tay, ông lập tức dừng việc đào bới. Thay vì tiếp tục tìm kiếm, ông gọi cảnh sát và hội khảo cổ địa phương, rồi rời khỏi hố đào.
Chính quyết định đó đã làm thay
đổi tất cả.
Sáng hôm sau, các nhà khảo cổ thuộc Cơ quan Khảo cổ Hội đồng hạt Suffolk đến hiện trường và khai quật khu vực này. Họ nhấc nguyên từng khối đất mang về phòng thí nghiệm để nghiên cứu trong điều kiện được kiểm soát chặt chẽ.
Những gì họ phát hiện là kho báu vàng và bạc La Mã cuối thời kỳ La Mã lớn nhất từng được tìm thấy tại Anh, đồng thời cũng là bộ sưu tập tiền xu La Mã từ thế kỷ IV và V lớn nhất từng được phát hiện ở bất kỳ nơi nào trong toàn bộ lãnh thổ của Đế chế La Mã trước đây.
Bên trong của một chiếc rương
bằng gỗ sồi có 14.865 đồng tiền bằng vàng, bạc và đồng, cùng với hơn 200 hiện vật khác, bao gồm
dây chuyền vàng, vòng tay, nhẫn, thìa và muôi bạc, những lọ đựng hạt tiêu được chạm khắc tinh xảo, cùng một tay cầm bằng bạc có hình một con hổ.
Các hiện vật được sắp xếp rất cẩn thận trước khi chôn xuống đất. Chúng được bọc trong vải và rơm, rồi đặt vào những ngăn gỗ nhỏ bên trong chiếc rương.
Rõ ràng, chủ nhân của kho báu đã đóng gói toàn bộ tài sản này một cách hết sức chu đáo với ý định sẽ quay trở lại lấy sau.
Nhưng họ không bao giờ trở lại.
Những đồng tiền cho phép xác định kho báu được chôn vào khoảng năm 407 hoặc 408 - tức là những năm cuối cùng của thời kỳ La Mã cai trị nước Anh. Khi đó, tình hình vô cùng bất ổn vì quân đội La Mã lần lượt rút khỏi Anh để bảo vệ đế chế đang trên bờ sụp đổ ở lục địa châu Âu.
Người chôn giấu Kho báu Hoxne hẳn đã hành động trong nỗi sợ hãi. Và dù sau đó số phận của họ ra sao, họ đã mang theo bí mật về vị trí cất giấu kho báu xuống mồ.
Chính phủ Anh định giá kho báu này là 1,75 triệu bảng Anh. Eric Lawes và Peter Whatling chia đều khoản tiền thưởng.
Điều thú vị là sau đó, các nhà khảo cổ cũng đã tìm thấy chiếc búa bị thất lạc.
Whatling đã hiến tặng chiếc búa ấy cho Bảo tàng Anh, nơi ngày nay nó được trưng bày trong một tủ kính, chỉ cách những món vàng đã khiến ông trở nên giàu có vài bước chân.
Đây là một trong những câu chuyện nổi tiếng nhất trong lịch sử khảo cổ học hiện đại, bởi nếu Eric Lawes tiếp tục tự ý đào bới, rất nhiều thông tin khảo cổ quý giá về cách người La Mã cất giấu kho báu có thể đã bị phá hủy vĩnh viễn. Chính sự trung thực và cẩn trọng của ông đã giúp các nhà khoa học nghiên cứu được toàn bộ bối cảnh của phát hiện vô giá này.

• (Phan Thế Nghĩa lược dịch từ
Historic Bytes).






Mỏ neo Titanic – Khối thép khổng lồ được rèn bằng lửa và tham vọng của một thời đại
Bức ảnh hiếm này ghi lại chiếc mỏ neo trung tâm của RMS Titanic, một thành tựu cơ khí khiến cả nước Anh kinh ngạc vào đầu thế kỷ XX. Người đàn ông đứng cạnh khối thép đồ sộ giúp hình dung rõ quy mô của công trình: dài khoảng 5,7 mét, rộng 3,3 mét và nặng gần 15,5 tấn. Khi hoàn thành, đây là chiếc mỏ neo lớn nhất từng được rèn thủ công trên thế giới.
Mỏ neo được chế tạo tại Netherton, vùng Midlands của Anh bởi Noah Hingley & Sons Ltd., doanh nghiệp nổi tiếng chuyên sản xuất neo và dây xích cho hải quân cùng các tàu viễn dương. Phần thân được rèn bởi Walter Somers Ltd., còn phần cánh neo do John Rogerson & Co. đúc. Để tạo nên khối thép khổng lồ này, các lò nung phải hoạt động liên tục ở nhiệt độ cực cao trước khi hàng chục công nhân điều khiển những chiếc búa hơi nước nặng hàng tấn dập xuống kim loại đỏ rực. Mỗi công đoạn đều đòi hỏi độ chính xác tuyệt đối vì chỉ một sai sót nhỏ cũng có thể làm hỏng toàn bộ kết cấu.
Sau khi hoàn thiện, chiếc mỏ neo cùng hệ thống dây xích được đưa đến Lloyd's Proving House để kiểm tra tải trọng. Đây là một trong những cơ sở thử nghiệm nghiêm ngặt nhất nước Anh thời bấy giờ. Các kỹ sư phải chứng minh rằng hệ thống neo đủ sức giữ một con tàu dài gần 270 mét với lượng choán nước hơn 52.000 tấn trong điều kiện biển động.
Việc vận chuyển chiếc mỏ neo cũng trở thành sự kiện đáng chú ý. Khối thép nặng hàng chục tấn được đặt trên xe chuyên dụng kéo bằng nhiều ngựa thồ qua các tuyến phố công nghiệp trước khi chuyển lên tàu hỏa đến Belfast. Người dân đổ ra đường theo dõi đoàn vận chuyển vì hiếm khi được chứng kiến một cấu kiện hàng hải lớn đến vậy.
Tại xưởng đóng tàu Harland and Wolff, chiếc mỏ neo được lắp vào Titanic, con tàu được xem là đỉnh cao kỹ thuật hàng hải của thời đại. Trớ trêu thay, bộ phận được chế tạo chắc chắn bậc nhất trên tàu lại không có cơ hội phát huy vai trò trong đêm định mệnh 14 tháng 4 năm 1912. Titanic chìm sau khi va phải tảng băng trôi trên Bắc Đại Tây Dương, mang theo chiếc mỏ neo khổng lồ xuống độ sâu gần 3.800 mét dưới đáy biển.
Hơn một thế kỷ đã trôi qua, bức ảnh vẫn gợi nhớ thời kỳ mà những kỹ sư, thợ rèn và công nhân Anh tin rằng thép, hơi nước và bàn tay con người có thể tạo ra những công trình vượt xa mọi giới hạn từng tồn tại. Chiếc mỏ neo Titanic trở thành biểu tượng cho quy mô, kỹ nghệ và khát vọng của cuộc Cách mạng Công nghiệp ở giai đoạn rực rỡ nhất.


Mỗi ngày chỉ có một lượng du khách giới hạn được phép lên đảo vào mùa hè
Nhìn từ trên cao, hòn đảo này giống như một chiếc bát khổng lồ đang nổi giữa Đại Tây Dương.
Đây là Ilhéu de Vila Franca do Campo, một hòn đảo núi lửa nằm ngoài khơi đảo São Miguel, thuộc quần đảo Azores của Bồ Đào Nha.
Điều đặc biệt nhất của nơi này chính là chiếc "hồ bơi" mà thiên nhiên đã mất hàng chục nghìn năm để tạo nên.
Thực ra đó là miệng của một ngọn núi lửa cổ đã ngừng hoạt động. Theo thời gian, phần đỉnh sụp xuống, nước biển len qua một khe hẹp rồi lấp đầy lòng chảo, tạo thành một hồ nước gần như hình tròn, được bao bọc bởi những vách đá xanh mướt.
Bên ngoài, sóng Đại Tây Dương có thể dữ dội.
Nhưng bên trong miệng núi lửa, mặt nước lại yên ả đến lạ, như thể thiên nhiên đã khéo léo tạo ra một bến cảng bí mật chỉ dành cho những ai may mắn đặt chân tới.
Có một chi tiết rất thú vị là cửa thông giữa hồ và biển được đặt theo hướng Bắc, giúp dòng nước liên tục lưu thông nhưng vẫn giữ cho mặt hồ khá êm. Nhờ vậy, nơi đây trở thành một trong những địa điểm bơi lội và lặn ngắm sinh vật biển nổi tiếng nhất Azores.
Để bảo vệ hệ sinh thái mong manh, mỗi ngày chỉ có một lượng du khách giới hạn được phép lên đảo vào mùa hè. Thiên nhiên ở đây vì thế vẫn giữ được vẻ nguyên sơ hiếm có.
Đứng trên đài quan sát nhìn xuống, người ta mới hiểu vì sao Azores thường được gọi là "bí mật đẹp nhất của Đại Tây Dương."
Có những nơi khiến ta ngạc nhiên vì bàn tay con người.
Và cũng có những nơi như Ilhéu de Vila Franca do Campo, khiến ta lặng người trước sự kỳ diệu mà chỉ thiên nhiên mới có thể tạo nên.
• (Du lịch văn hóa).






Không có nhận xét nào:

CHÀO MỪNG QUÝ THẦY CÔ VÀ ĐỒNG MÔN TRƯỜNG HOÀNG DIỆU SÓC TRĂNG THAM QUAN, ỦNG HỘ HOANGDIEUTRUONGXUASAIGON.BLOGSPOT.COM. CHÚC THẦY CÔ VÀ ANH CHỊ EM NHIỀU SỨC KHỎE, THÀNH CÔNG TRONG CÔNG VIỆC.