Hình dưới đây là mộ của Edison, ân nhân của nhân loại, người đã phát minh ra điện thắp sáng cho toàn thế giới và hơn 1000 phát minh khác đã định hình nên cuộc sống của chúng ta ngày nay.
Một người Mỹ chính cống !
———————
Thomas Edison (1847-1931) được biết đến là một nhà khoa học vĩ đại của thế kỷ 20. Trong suốt cuộc đời của mình, ông đã lãnh tổng cộng 1907 bằng phát minh, một kỉ lục vô tiền khoáng hậu trong giới khoa học. Bên cạnh những phát minh của mình, Thomas Edison còn được biết đến là một người khá ‘'hài hước'’ khi cầu hôn theo kiểu chẳng giống ai!
Theo đó vào năm 24 tuổi, Thomas Edison là chủ của một xí nghiệp khá nổi danh. Một ngày, ông đã đến trước mặt nàng thư ký Mary dịu dàng, thanh tú và nói: “Thưa cô, tôi không muốn phí thì giờ nói những câu vô ích. Tôi xin hỏi cô một câu rất ngắn gọn và rõ ràng: Cô có ưng làm vợ tôi không?”.
Hoàn toàn sửng sốt và bất ngờ, cô gái không tin vào tai mình. “Ý cô thế nào, cô nhận lời tôi chứ. Tôi xin cô suy nghĩ trong vòng năm phút”, Edison nhắc lại lời cầu hôn “cấp tốc” của mình bằng vẻ mặt rất nghiêm chỉnh.
“Năm phút cơ à? Thế thì lâu quá! Vâng, em nhận lời”. Mary lí nhí, đỏ mặt đáp.
Ngay sau đó, một đám cưới chóng vánh đã được diễn ra trong sự chúc phúc của bạn bè và đồng nghiệp. Tuy nhiên, điều không may là sau khi hạ sinh cho Edison 3 người con, Marry đã qua đời vào năm 1884. Sau sự ra đi mãi mãi của người vợ hết mực yêu thương, Edison thường xuyên tới Boston và ở lại nhà một người bạn có tên là Gilliard. Hai vợ chồng Gilliard hết lời an ủi Edison và nói rằng rồi thế nào cũng sẽ có một cô gái trẻ nào đó thích hợp đến với ông.
Một ngày đẹp trời, Mina Miller, một cô gái 18 tuổi được mời tới nhà của Gilliard với tư cách là nghệ sĩ piano và là ca sĩ cho buổi tiệc do chính gia đình Gilliard tổ chức. Ngay lập tức, cô gái trẻ đầy tài năng và quyến rũ này đã thực sự “hớp hồn“ Edison.
Vào thời điểm bấy giờ, Mina được mọi người miêu tả với một vẻ đẹp đầy gợi cảm, với mái tóc đen và đôi mắt sáng lấp lánh. Chính vì vậy, trong suốt buổi biểu diễn, Edison đã không ngừng “dán mắt“ vào Mina.
Sau lần gặp đầu tiên định mệnh ấy, hình ảnh Mina luôn xuất hiện trong tâm trí của Edison. Trong một chuyến đi khám phá tới bờ biển Fort Myers – Florida, ông đã nhận thấy nơi đây chính là thiên đường của mình.
Bất giác, Edison bừng lên những suy nghĩ: Phải xây một căn nhà trú đông ở đây và phải cưới Mina…
Theo đó, sau khi trở lại New York để làm việc, Edison đã không thể ngừng nghĩ về Mina – tình yêu mới của đời mình. Để thỏa nỗi nhớ, Edison đã dạy Mina cách sử dụng mã Morse để họ có thể trao đổi một cách bí mật và gõ nhịp vào tay nhau theo cách này để trò chuyện khi có người xung quanh. Rồi một hôm, Edison bất ngờ chuyển tới Mina một đoạn mã như sau .– — ..- .-.. -.. -.– — ..- — .- .-. .-. -.– — .
Mina cũng không ngần ngại trả lời với -.– . …
Họ đã trao đổi với nhau những gì vậy?
Đó chính là lời cầu hôn của Edison cho Mina. Chẳng giống ai nhưng cũng thật ngọt ngào phải không?. Hôn lễ sau đó được tổ chức vào ngày 24/2/1886 với sự tham dự của rất nhiều những người nổi tiếng.
Mina, một cô gái tài sắc vẹn toàn, luôn luôn là chỗ dựa cho thành công trong tương lai của người chồng. Còn Edison, một bộ não vĩ đại và cũng là một người chồng, người cha rất đỗi tuyệt vời. Số phận đã đưa 2 con người này đến với nhau theo những cách rất riêng nhưng, rất đặc biệt.
Thomas Edison sau đó đã mất ở New Jersey ở tuổi 84. Những từ cuối cùng của ông nói với vợ là: “Ở ngoài kia đẹp quá”.
Và cho đến ngày nay, Edison và Mina vẫn hạnh phúc yên nghỉ bên nhau ở khu vườn tưởng niệm đằng sau ngôi nhà của họ. Có hàng ngàn du khách mỗi năm đến thăm nhà lưu niệm, những công trình nghiên cứu khoa học, phòng thí nghiệm... nơi ông đã sáng chế ra những phát minh như máy quay đĩa ghi âm (dĩa hát), bóng đèn điện, máy chiếu phim, công tơ điện, ô tô điện... những công trình này sẽ luôn mang một ý nghĩa đặc biệt đối với hậu thế sau này.
Ngày ông mất, nước Mỹ đã tắt toàn bộ đèn điện trên toàn lãnh thổ trong một phút, để tưởng nhớ "người bạn của nhân loại" đã mang đến cho con người một thứ ánh sáng quý giá như một "mặt trời thứ hai".
Ảnh: Hai ngôi mộ của vợ chồng Edison và Mina ở vườn sau nhà.
Một người Mỹ chính cống !
———————
Thomas Edison (1847-1931) được biết đến là một nhà khoa học vĩ đại của thế kỷ 20. Trong suốt cuộc đời của mình, ông đã lãnh tổng cộng 1907 bằng phát minh, một kỉ lục vô tiền khoáng hậu trong giới khoa học. Bên cạnh những phát minh của mình, Thomas Edison còn được biết đến là một người khá ‘'hài hước'’ khi cầu hôn theo kiểu chẳng giống ai!
Theo đó vào năm 24 tuổi, Thomas Edison là chủ của một xí nghiệp khá nổi danh. Một ngày, ông đã đến trước mặt nàng thư ký Mary dịu dàng, thanh tú và nói: “Thưa cô, tôi không muốn phí thì giờ nói những câu vô ích. Tôi xin hỏi cô một câu rất ngắn gọn và rõ ràng: Cô có ưng làm vợ tôi không?”.
Hoàn toàn sửng sốt và bất ngờ, cô gái không tin vào tai mình. “Ý cô thế nào, cô nhận lời tôi chứ. Tôi xin cô suy nghĩ trong vòng năm phút”, Edison nhắc lại lời cầu hôn “cấp tốc” của mình bằng vẻ mặt rất nghiêm chỉnh.
“Năm phút cơ à? Thế thì lâu quá! Vâng, em nhận lời”. Mary lí nhí, đỏ mặt đáp.
Ngay sau đó, một đám cưới chóng vánh đã được diễn ra trong sự chúc phúc của bạn bè và đồng nghiệp. Tuy nhiên, điều không may là sau khi hạ sinh cho Edison 3 người con, Marry đã qua đời vào năm 1884. Sau sự ra đi mãi mãi của người vợ hết mực yêu thương, Edison thường xuyên tới Boston và ở lại nhà một người bạn có tên là Gilliard. Hai vợ chồng Gilliard hết lời an ủi Edison và nói rằng rồi thế nào cũng sẽ có một cô gái trẻ nào đó thích hợp đến với ông.
Một ngày đẹp trời, Mina Miller, một cô gái 18 tuổi được mời tới nhà của Gilliard với tư cách là nghệ sĩ piano và là ca sĩ cho buổi tiệc do chính gia đình Gilliard tổ chức. Ngay lập tức, cô gái trẻ đầy tài năng và quyến rũ này đã thực sự “hớp hồn“ Edison.
Vào thời điểm bấy giờ, Mina được mọi người miêu tả với một vẻ đẹp đầy gợi cảm, với mái tóc đen và đôi mắt sáng lấp lánh. Chính vì vậy, trong suốt buổi biểu diễn, Edison đã không ngừng “dán mắt“ vào Mina.
Sau lần gặp đầu tiên định mệnh ấy, hình ảnh Mina luôn xuất hiện trong tâm trí của Edison. Trong một chuyến đi khám phá tới bờ biển Fort Myers – Florida, ông đã nhận thấy nơi đây chính là thiên đường của mình.
Bất giác, Edison bừng lên những suy nghĩ: Phải xây một căn nhà trú đông ở đây và phải cưới Mina…
Theo đó, sau khi trở lại New York để làm việc, Edison đã không thể ngừng nghĩ về Mina – tình yêu mới của đời mình. Để thỏa nỗi nhớ, Edison đã dạy Mina cách sử dụng mã Morse để họ có thể trao đổi một cách bí mật và gõ nhịp vào tay nhau theo cách này để trò chuyện khi có người xung quanh. Rồi một hôm, Edison bất ngờ chuyển tới Mina một đoạn mã như sau .– — ..- .-.. -.. -.– — ..- — .- .-. .-. -.– — .
Mina cũng không ngần ngại trả lời với -.– . …
Họ đã trao đổi với nhau những gì vậy?
Đó chính là lời cầu hôn của Edison cho Mina. Chẳng giống ai nhưng cũng thật ngọt ngào phải không?. Hôn lễ sau đó được tổ chức vào ngày 24/2/1886 với sự tham dự của rất nhiều những người nổi tiếng.
Mina, một cô gái tài sắc vẹn toàn, luôn luôn là chỗ dựa cho thành công trong tương lai của người chồng. Còn Edison, một bộ não vĩ đại và cũng là một người chồng, người cha rất đỗi tuyệt vời. Số phận đã đưa 2 con người này đến với nhau theo những cách rất riêng nhưng, rất đặc biệt.
Thomas Edison sau đó đã mất ở New Jersey ở tuổi 84. Những từ cuối cùng của ông nói với vợ là: “Ở ngoài kia đẹp quá”.
Và cho đến ngày nay, Edison và Mina vẫn hạnh phúc yên nghỉ bên nhau ở khu vườn tưởng niệm đằng sau ngôi nhà của họ. Có hàng ngàn du khách mỗi năm đến thăm nhà lưu niệm, những công trình nghiên cứu khoa học, phòng thí nghiệm... nơi ông đã sáng chế ra những phát minh như máy quay đĩa ghi âm (dĩa hát), bóng đèn điện, máy chiếu phim, công tơ điện, ô tô điện... những công trình này sẽ luôn mang một ý nghĩa đặc biệt đối với hậu thế sau này.
Ngày ông mất, nước Mỹ đã tắt toàn bộ đèn điện trên toàn lãnh thổ trong một phút, để tưởng nhớ "người bạn của nhân loại" đã mang đến cho con người một thứ ánh sáng quý giá như một "mặt trời thứ hai".
Ảnh: Hai ngôi mộ của vợ chồng Edison và Mina ở vườn sau nhà.
Sưu tầm
Thập niên 1960, New York là thành phố của tiếng còi xe, những tòa nhà dựng đứng và một thế hệ nhà văn đang cố tìm đường đi trong thế giới đầy cạnh tranh. Trong số họ có Mario Puzo – một người đàn ông trung niên mang theo tuổi thơ ở Hell’s Kitchen, nơi nghèo đói, nhập cư và những câu chuyện truyền miệng đã hình thành cái nhìn sâu sắc của ông về con người. Dù luôn tin mình có giọng văn riêng, Puzo vẫn sống trong cảnh nợ nần chồng chất. Những cuốn sách ông viết trước đó được giới phê bình khen nhưng lại không bán chạy, khiến gia đình ông luôn trong tình trạng khó khăn.
Khi bước sang tuổi bốn mươi chín, trước áp lực tài chính ngày càng lớn, Puzo quyết định viết một cuốn tiểu thuyết “để kiếm tiền”, như chính ông thú nhận sau này. Ông chọn đề tài mafia Ý – điều ông chưa từng chứng kiến tận mắt nhưng lại hiểu rõ bối cảnh văn hóa và tâm lý của cộng đồng nhập cư Ý. Tác phẩm được ông viết trong hai năm, phần lớn là vào ban đêm, trước chiếc máy đánh chữ cũ và ánh đèn bàn vàng ố. Năm 1969, The Godfather ra đời và trở thành hiện tượng xuất bản Mỹ, đưa tên tuổi Puzo lên hàng nhà văn bán chạy, bên cạnh những tác giả từng khiến ông ngưỡng mộ.
Thành công ấy đưa Puzo đến một bước ngoặt khác. Paramount muốn chuyển thể The Godfather thành phim và mời ông tham gia viết kịch bản cùng Francis Ford Coppola. Điều đáng nói là Puzo chưa từng viết kịch bản một lần nào. Ông không biết phân đoạn, không biết cách sắp nhịp thoại để phù hợp với điện ảnh, cũng chưa hiểu cấu trúc ba hồi của Hollywood. Nhưng trước cơ hội ấy và trước nhu cầu tài chính của gia đình, ông nhận lời rồi tự mày mò từng bước, vừa học vừa viết.
Cơ chế sáng tác giữa Puzo và Coppola dựa trên sự giao thoa giữa văn chương và điện ảnh. Puzo mang đến chất giọng kể chuyện giàu chi tiết, còn Coppola định hình nhịp điệu hình ảnh và cấu trúc phim. Hai người tranh luận từng điểm nhỏ: sự trầm lặng của Vito Corleone, đường cong chuyển hóa của Michael, cách dàn dựng những cảnh mang tính chuyển bước như buổi họp gia đình hay nghi thức rửa tội đan xen các vụ hành quyết. Bằng sự kết hợp ấy, kịch bản The Godfather hình thành với sức nặng của một câu chuyện lớn và chiều sâu của một bi kịch gia tộc.
Khi phim ra mắt, cả Hollywood rung chuyển. The Godfather thắng lớn, mở đường cho The Godfather Part II và hai tượng Oscar đến với Mario Puzo – người từng không biết viết kịch bản trông như thế nào. Chỉ đến lúc đã nổi tiếng và giàu có, ông mới mua một cuốn sách hướng dẫn biên kịch để xem “người ta dạy ra sao”. Và ở phần lời khuyên quan trọng nhất, ông đọc được câu khiến bản thân bật cười: “Hãy nghiên cứu kịch bản The Godfather.”
Puzo khép sách lại, mỉm cười và nói:
“Có lẽ tôi đã làm đúng ngay từ đầu.”
Câu nói ấy gói gọn cả hành trình thăng trầm của một nhà văn chạm đến thiên tài vào đúng thời điểm cần thiết. The Godfather từ đó trở thành minh chứng cho sức mạnh của trực giác sáng tác, của sự nhẫn nại và niềm tin tuyệt đối vào câu chuyện mà một người kể chọn dốc lòng theo đuổi.
Khi bước sang tuổi bốn mươi chín, trước áp lực tài chính ngày càng lớn, Puzo quyết định viết một cuốn tiểu thuyết “để kiếm tiền”, như chính ông thú nhận sau này. Ông chọn đề tài mafia Ý – điều ông chưa từng chứng kiến tận mắt nhưng lại hiểu rõ bối cảnh văn hóa và tâm lý của cộng đồng nhập cư Ý. Tác phẩm được ông viết trong hai năm, phần lớn là vào ban đêm, trước chiếc máy đánh chữ cũ và ánh đèn bàn vàng ố. Năm 1969, The Godfather ra đời và trở thành hiện tượng xuất bản Mỹ, đưa tên tuổi Puzo lên hàng nhà văn bán chạy, bên cạnh những tác giả từng khiến ông ngưỡng mộ.
Thành công ấy đưa Puzo đến một bước ngoặt khác. Paramount muốn chuyển thể The Godfather thành phim và mời ông tham gia viết kịch bản cùng Francis Ford Coppola. Điều đáng nói là Puzo chưa từng viết kịch bản một lần nào. Ông không biết phân đoạn, không biết cách sắp nhịp thoại để phù hợp với điện ảnh, cũng chưa hiểu cấu trúc ba hồi của Hollywood. Nhưng trước cơ hội ấy và trước nhu cầu tài chính của gia đình, ông nhận lời rồi tự mày mò từng bước, vừa học vừa viết.
Cơ chế sáng tác giữa Puzo và Coppola dựa trên sự giao thoa giữa văn chương và điện ảnh. Puzo mang đến chất giọng kể chuyện giàu chi tiết, còn Coppola định hình nhịp điệu hình ảnh và cấu trúc phim. Hai người tranh luận từng điểm nhỏ: sự trầm lặng của Vito Corleone, đường cong chuyển hóa của Michael, cách dàn dựng những cảnh mang tính chuyển bước như buổi họp gia đình hay nghi thức rửa tội đan xen các vụ hành quyết. Bằng sự kết hợp ấy, kịch bản The Godfather hình thành với sức nặng của một câu chuyện lớn và chiều sâu của một bi kịch gia tộc.
Khi phim ra mắt, cả Hollywood rung chuyển. The Godfather thắng lớn, mở đường cho The Godfather Part II và hai tượng Oscar đến với Mario Puzo – người từng không biết viết kịch bản trông như thế nào. Chỉ đến lúc đã nổi tiếng và giàu có, ông mới mua một cuốn sách hướng dẫn biên kịch để xem “người ta dạy ra sao”. Và ở phần lời khuyên quan trọng nhất, ông đọc được câu khiến bản thân bật cười: “Hãy nghiên cứu kịch bản The Godfather.”
Puzo khép sách lại, mỉm cười và nói:
“Có lẽ tôi đã làm đúng ngay từ đầu.”
Câu nói ấy gói gọn cả hành trình thăng trầm của một nhà văn chạm đến thiên tài vào đúng thời điểm cần thiết. The Godfather từ đó trở thành minh chứng cho sức mạnh của trực giác sáng tác, của sự nhẫn nại và niềm tin tuyệt đối vào câu chuyện mà một người kể chọn dốc lòng theo đuổi.
Ánh sáng đổ xuống qua những ô kính màu rực rỡ, phản chiếu lên những vòm trần quạt như cánh hoa đá đang nở rộ – đó là khoảnh khắc mà thời gian dường như dừng lại bên trong King’s College Chapel ở Cambridge. Mỗi tia sáng lọt qua tấm kính cổ là một mảnh của năm thế kỷ, kể lại câu chuyện về quyền lực, đức tin và vẻ đẹp mà con người đã kiên nhẫn khắc vào đá.
Nhà nguyện được khởi công năm 1446 theo lệnh của Vua Henry VI, và phải mất hơn 100 năm mới hoàn thành dưới triều Henry VIII. Suốt thế kỷ 15 và 16, hàng trăm thợ thủ công đã miệt mài làm việc để tạo nên kỳ quan này – từ những vòm quạt tinh xảo nhất nước Anh cho đến hệ thống cửa kính nhuộm màu được coi là một trong những báu vật của nghệ thuật Gothic muộn. Những ô kính ấy không chỉ là tranh kể Kinh Thánh mà còn là bản ghi bằng ánh sáng: từng màu sắc, từng chi tiết nhỏ đều tái hiện đời sống, triều đại, và khát vọng của con người trong thời đại mà nghệ thuật là ngôn ngữ của niềm tin.
Bước vào không gian ấy, ta như được cuốn vào một thế giới khác – nơi ánh sáng trở thành lời cầu nguyện. Màu đỏ thẫm của tử đạo, vàng của thánh ân, xanh lam của lòng trung tín, tất cả hợp lại thành một bản giao hưởng thị giác khiến người ta quên đi thực tại. Trên cao, trần quạt bằng đá – công trình vòm quạt lớn nhất thế giới – trải ra như những đường gân của thiên đường, tạo cảm giác vừa vĩ đại vừa thanh khiết.
Trải qua chiến tranh, bão tố, và những biến động của lịch sử, King’s College Chapel vẫn đứng vững, giữ nguyên vẻ uy nghi trầm tĩnh giữa khuôn viên Cambridge. Ở nơi này, ánh sáng đã soi qua năm thế kỷ mà không phai, và âm thanh của dàn hợp xướng vẫn vang lên dưới mái vòm đá như ngày đầu tiên. Đó là cuộc gặp gỡ giữa nghệ thuật và vĩnh cửu – nơi con người chạm đến đức tin bằng bàn tay và trái tim mình.
Nhà nguyện được khởi công năm 1446 theo lệnh của Vua Henry VI, và phải mất hơn 100 năm mới hoàn thành dưới triều Henry VIII. Suốt thế kỷ 15 và 16, hàng trăm thợ thủ công đã miệt mài làm việc để tạo nên kỳ quan này – từ những vòm quạt tinh xảo nhất nước Anh cho đến hệ thống cửa kính nhuộm màu được coi là một trong những báu vật của nghệ thuật Gothic muộn. Những ô kính ấy không chỉ là tranh kể Kinh Thánh mà còn là bản ghi bằng ánh sáng: từng màu sắc, từng chi tiết nhỏ đều tái hiện đời sống, triều đại, và khát vọng của con người trong thời đại mà nghệ thuật là ngôn ngữ của niềm tin.
Bước vào không gian ấy, ta như được cuốn vào một thế giới khác – nơi ánh sáng trở thành lời cầu nguyện. Màu đỏ thẫm của tử đạo, vàng của thánh ân, xanh lam của lòng trung tín, tất cả hợp lại thành một bản giao hưởng thị giác khiến người ta quên đi thực tại. Trên cao, trần quạt bằng đá – công trình vòm quạt lớn nhất thế giới – trải ra như những đường gân của thiên đường, tạo cảm giác vừa vĩ đại vừa thanh khiết.
Trải qua chiến tranh, bão tố, và những biến động của lịch sử, King’s College Chapel vẫn đứng vững, giữ nguyên vẻ uy nghi trầm tĩnh giữa khuôn viên Cambridge. Ở nơi này, ánh sáng đã soi qua năm thế kỷ mà không phai, và âm thanh của dàn hợp xướng vẫn vang lên dưới mái vòm đá như ngày đầu tiên. Đó là cuộc gặp gỡ giữa nghệ thuật và vĩnh cửu – nơi con người chạm đến đức tin bằng bàn tay và trái tim mình.
Hành trình tiến hóa của điêu khắc Hy Lạp cổ đại là câu chuyện dài đầy mê hoặc, nơi đá cẩm thạch dần đánh thức hình hài con người, rồi biết thở, biết chuyển động, biết đau khổ, biết yêu thương qua bàn tay của những nghệ nhân được xem là tổ phụ của nghệ thuật phương Tây. Mỗi giai đoạn mang một hơi thở, phản ánh cách người Hy Lạp nhìn thế giới và chính họ trong từng thế kỷ biến động.
Khoảng thế kỷ VII–VI TCN, tượng Kouros và Kore ra đời như những lời thử nghiệm đầu tiên. Cơ thể được dựng thẳng, dáng đứng đối xứng, khuôn mặt mang nụ cười đặc trưng của thời kỳ Archaic mà các nhà nghiên cứu gọi là “archaic smile” — một kiểu mỉm cười lý tưởng hóa, như thể nghệ nhân còn đang loay hoay giữa mô tả con người và tôn vinh thần linh. Mắt to, gò má phẳng, các lọn tóc xếp thành hàng lặp lại, tất cả cho thấy nghệ thuật vẫn chịu ảnh hưởng mạnh của Ai Cập và phương Đông, nơi quy tắc là nền tảng chính của thẩm mỹ.
Sang thế kỷ V TCN, khi Hy Lạp đạt đến thời kỳ Cổ điển, nghệ thuật điêu khắc bước vào một cuộc lột xác. Những nghệ nhân như Polykleitos không chỉ chạm vào đá mà còn chạm vào bản chất của cái đẹp thông qua bộ quy tắc nổi tiếng Canon. Ông nghiên cứu tỷ lệ, độ cân xứng, sự phân bố trọng lượng và tạo nên tư thế contrapposto — một bước tiến thiên tài khiến toàn bộ cơ thể nghiêng nhẹ sang một bên, tạo ra cảm giác thăng bằng tự nhiên. Nhờ đó, đá cẩm thạch xuất hiện dáng đứng của con người thật sự, không cứng đờ mà đầy nhịp thở và năng lượng.
Tới thế kỷ IV TCN, Praxiteles mang đến sự mềm mại mà chỉ Hy Lạp mới có thể tạo ra. Bàn tay ông khiến đá trông như da thịt, ánh sáng trượt qua đường cong vai, hông, cánh tay như đang lướt trên nước. Đây là giai đoạn điêu khắc trở nên thân mật hơn, gần với cảm xúc hơn. Từ thần thoại đến nhân dạng đời thường, mọi hình thể đều khoác lên sự dịu dàng và tinh tế, phản ánh một Hy Lạp bắt đầu suy tư về cá nhân, tâm hồn, tình cảm và sự mong manh của kiếp người.
Cuối cùng, bước sang thời kỳ Hy Lạp–La Mã từ thế kỷ II TCN đến thế kỷ I, nghệ thuật rực sáng trong bi kịch và chuyển động. Những tuyệt phẩm như Laocoön và các con là đỉnh cao của sự kịch tính: cơ thể xoắn lại, cơ bắp căng cứng, gân nổi dưới lớp đá, nỗi đau lộ ra trong từng nếp gấp và hơi thở. Các nghệ nhân vận dụng kỹ thuật khoan sâu vào cẩm thạch, tạo độ tương phản mạnh giữa bóng và sáng, khiến tượng trông như sắp bật khỏi bệ. Đây là giai đoạn điêu khắc bước sang cảm xúc mãnh liệt, ghi lại khoảnh khắc thay vì lý tưởng tĩnh tại.
Từ những gương mặt ngây ngô của kỷ nguyên Archaic đến sự duyên dáng cổ điển và sức mạnh Hellenistic, nghệ thuật Hy Lạp là trường ca về sự khám phá con người bằng đá. Không nền văn minh nào trước đó chạm đến độ tinh xảo như vậy, và các bậc thầy của thời kỳ này đã đặt nền tảng cho toàn bộ điêu khắc châu Âu trong hai thiên niên kỷ tiếp theo.
Khoảng thế kỷ VII–VI TCN, tượng Kouros và Kore ra đời như những lời thử nghiệm đầu tiên. Cơ thể được dựng thẳng, dáng đứng đối xứng, khuôn mặt mang nụ cười đặc trưng của thời kỳ Archaic mà các nhà nghiên cứu gọi là “archaic smile” — một kiểu mỉm cười lý tưởng hóa, như thể nghệ nhân còn đang loay hoay giữa mô tả con người và tôn vinh thần linh. Mắt to, gò má phẳng, các lọn tóc xếp thành hàng lặp lại, tất cả cho thấy nghệ thuật vẫn chịu ảnh hưởng mạnh của Ai Cập và phương Đông, nơi quy tắc là nền tảng chính của thẩm mỹ.
Sang thế kỷ V TCN, khi Hy Lạp đạt đến thời kỳ Cổ điển, nghệ thuật điêu khắc bước vào một cuộc lột xác. Những nghệ nhân như Polykleitos không chỉ chạm vào đá mà còn chạm vào bản chất của cái đẹp thông qua bộ quy tắc nổi tiếng Canon. Ông nghiên cứu tỷ lệ, độ cân xứng, sự phân bố trọng lượng và tạo nên tư thế contrapposto — một bước tiến thiên tài khiến toàn bộ cơ thể nghiêng nhẹ sang một bên, tạo ra cảm giác thăng bằng tự nhiên. Nhờ đó, đá cẩm thạch xuất hiện dáng đứng của con người thật sự, không cứng đờ mà đầy nhịp thở và năng lượng.
Tới thế kỷ IV TCN, Praxiteles mang đến sự mềm mại mà chỉ Hy Lạp mới có thể tạo ra. Bàn tay ông khiến đá trông như da thịt, ánh sáng trượt qua đường cong vai, hông, cánh tay như đang lướt trên nước. Đây là giai đoạn điêu khắc trở nên thân mật hơn, gần với cảm xúc hơn. Từ thần thoại đến nhân dạng đời thường, mọi hình thể đều khoác lên sự dịu dàng và tinh tế, phản ánh một Hy Lạp bắt đầu suy tư về cá nhân, tâm hồn, tình cảm và sự mong manh của kiếp người.
Cuối cùng, bước sang thời kỳ Hy Lạp–La Mã từ thế kỷ II TCN đến thế kỷ I, nghệ thuật rực sáng trong bi kịch và chuyển động. Những tuyệt phẩm như Laocoön và các con là đỉnh cao của sự kịch tính: cơ thể xoắn lại, cơ bắp căng cứng, gân nổi dưới lớp đá, nỗi đau lộ ra trong từng nếp gấp và hơi thở. Các nghệ nhân vận dụng kỹ thuật khoan sâu vào cẩm thạch, tạo độ tương phản mạnh giữa bóng và sáng, khiến tượng trông như sắp bật khỏi bệ. Đây là giai đoạn điêu khắc bước sang cảm xúc mãnh liệt, ghi lại khoảnh khắc thay vì lý tưởng tĩnh tại.
Từ những gương mặt ngây ngô của kỷ nguyên Archaic đến sự duyên dáng cổ điển và sức mạnh Hellenistic, nghệ thuật Hy Lạp là trường ca về sự khám phá con người bằng đá. Không nền văn minh nào trước đó chạm đến độ tinh xảo như vậy, và các bậc thầy của thời kỳ này đã đặt nền tảng cho toàn bộ điêu khắc châu Âu trong hai thiên niên kỷ tiếp theo.
Pane e Vino - 3 Nguyễn Khắc Cần
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét