.

.

a

BÀI VỞ CHIA SẺ , CỘNG TÁC VUI LÒNG GỞI VỀ KHANHHOANGDIEU54@GMAIL.COM
Chúc Thầy Cô và anh chị em đồng môn Hoàng diệu, cùng thân hữu luôn dồi dào sức khỏe, thành công trong công việc.

Thứ Sáu, 17 tháng 5, 2019

Tòa biệt thự 99 cửa ở Sài Gòn và những bí ẩn chưa giải đáp về giai thoại “con ma nhà họ Hứa”



Tồn tại gần 100 năm nay giữa lòng Sài Gòn, tòa biệt thự bề thế của gia tộc họ Hứa vẫn luôn ẩn chứa những điều bí ẩn khiến không ít người tò mò lẫn sợ hãi mỗi khi nhắc đến những giai thoại gắn với nơi này.
Vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu của thế kỷ XX, Chú Hỏa (1845-1901) nổi lên như một thương gia tài giỏi và giàu có bậc nhất đất Sài Gòn, ông được dân gian tôn vinh là một trong tứ đại hào phú: “Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Hỏa” (Huyện Sỹ – Lê Phát Đạt; Tổng đốc Phương – Đỗ Hữu Phương; Bá hộ Xường – Lý Tường Quan và Chú Hỏa – Hui Bon Hoa).
Ông Hui Bon Hoa (tự gọi là Chú Hỏa) là một thương gia giàu có nổi tiếng của Sài Gòn xưa.
Công ty Hui Bon Hoa và các con của gia tộc họ Hứa đã có một thời gian dài phát triển rất thịnh vượng, có đóng góp quan trọng trong việc xây dựng Sài Gòn thời bấy giờ. Không chỉ xây các dinh thự hoành tráng cho gia đình mình, Chú Hỏa còn xây gần 20.000 căn nhà phố, cùng hàng loạt công trình dân dụng như bệnh viện, chùa chiền, trường học… phục vụ cho người dân.
Có rất nhiều giai thoại xung quanh gia đình của vị thương gia gốc Hoa này, thế nhưng có lẽ giai thoại nổi tiếng nhất và khiến người Sài Gòn luôn hoài nghi mỗi khi nhắc đến đó chính là: con ma nhà họ Hứa – tấn bi kịch của cô tiểu thư xinh đẹp Hứa Tiểu Lan.
Giai thoại về bi kịch của nhà họ Hứa
Tôi vẫn nhớ như in ngày còn nhỏ, bà nội (người Sài Gòn chính hiệu) thường kể cho tôi nghe về giai thoại khá nổi tiếng này như sau: Chú Hỏa có 3 người con trai và một cô con gái út xinh đẹp tên là Hứa Tiểu Lan. Vốn rất yêu thương cô con gái út, nên khi vị tiểu thư này mắc phải căn bệnh phong cùi, chú Hỏa đã tốn không biết bao nhiêu tiền của để chữa chạy cho con. Thế nhưng y học thời bấy giờ chưa phát triển, căn bệnh của Tiểu Lan xem như vô phương cứu chữa.
Nhằm không muốn để lộ việc con gái mình bị bệnh phong cùi, ông Hứa đã giam lỏng tiểu thư trong một căn phòng tối trên tầng cao nhất của tòa biệt thự. Hàng ngày, kẻ ăn người ở trong nhà luân phiên nhau đem cơm nước, quần áo cho tiểu thư thông qua một khe cửa. Và đặc biệt tất cả đầy tớ đều phải đi lùi và không được nhìn tiểu thư.
Ông Hứa đã giam lỏng tiểu thư trong một căn phòng tối trên tầng cao nhất của tòa biệt thự.
Vốn là một tiểu thư đài các, bỗng nhiên biến thành một quái nhân ghẻ lở khắp người, bị đẩy vào một căn phòng tách biệt với xã hội, tiểu thư họ Hứa không ngừng gào khóc trong vô vọng. Người Sài Gòn thời đó mỗi lần đi ngang qua tòa biệt thự thường cố đi thật nhanh và không dám nhìn lên căn phòng tối ấy vì sợ gặp phải ánh mắt ghê rợn của tiểu thư.
Thời gian trôi đi, cô tiểu thư cũng qua đời. Vì thương nhớ con gái, muốn tạo cảm giác như đứa con yêu thương vẫn còn sống bên mình, Chú Hỏa không khâm liệm, mà đặt thi hài tiểu thư trong một quan tài bằng đá, nắp đậy là một tấm kính dày 5cm. Hàng ngày vẫn có một bà vú mang thức ăn lên phòng như khi Tiểu Lan còn sống.
Một bức tranh trong phòng triển lãm mỹ thuật ở bảo tàng biệt thự này.
Vào ngày giỗ đầu của tiểu thư, Chú Hỏa đặt may một bộ áo đầm trắng, mua con búp bê biết nháy mắt và một dĩa cơm gà để cúng. Sau khi khách ra về, bà vú lên phòng dọn dẹp như thường lệ, thì bỗng nhiên bà hét lớn rồi chạy như ma đuổi xuống dưới, miệng liên tục nói: “Cô chủ về! Cô chủ về!”.
Trong căn phòng âm u, nắp hòm bằng kính bị mở ra, con búp bê đứng hẳn trên lồng kính, đôi mắt nháy lia lịa, còn dĩa cơm thì đã vơi đi phân nửa, dù các cửa phòng vẫn khóa chặt từ lúc sáng. Biết có điềm không lành, gia đình họ Hứa đã bí mật đem thi hài tiểu thư chôn ở một nơi cách xa thành phố. Và kể từ đó, mỗi khi đêm về người ta lại nghe thấy những tiếng khóc than ghê rợn phát ra từ phía căn phòng tối của cô tiểu thư xấu số.
Những hành lang tối tăm của căn biệt thự.
Đó là toàn bộ giai thoại mà người Sài Gòn vẫn hay truyền tai nhau về hồn ma nhà họ Hứa. Thế nhưng mãi cho đến tận bây giờ, vẫn chưa có một chứng cứ rõ ràng nào xác minh câu chuyện trên là sự thật.
Vào năm 1973, hãng phim tư nhân Dạ Lý Hương đã sản xuất bộ phim “Con ma nhà họ Hứa”, với lời giới thiệu là dựa trên bi kịch xảy với gia đình Chú Hỏa. Đây là bộ phim ma đầu tiên của điện ảnh miền Nam trước năm 1975. Sự thành công ngoài mong đợi của bộ phim càng khiến người ta tò mò về sự thật liên quan đến gia tộc lừng lẫy bậc nhất đất Sài Thành.
Phim “Con ma nhà họ Hứa” đạt 4,5 triệu trong ngày đầu tiên công chiếu, nhờ ăn theo câu chuyện của gia đình Chú Hỏa.
Sự thật về oan hồn vương vấn của tiểu thư Hứa Tiểu Lan
Sau khi nghiên cứu các tư liệu có trên mạng và sách báo, tôi đến tòa biệt thự cổ của gia đình họ Hứa nằm tại số 97 Phó Đức chính (quận 1) nay là Bảo tàng Mỹ thuật TP. HCM để tìm lời giải cho những bí ẩn xung quanh giai thoại Hứa Tiểu Lan.
Những căn phòng được sửa sang để trở thành phòng trưng bày nghệ thuật.
Trong khuôn viên rộng hơn 4.000 m2 là 3 căn dinh thự với lối kiến trúc kết hợp giữa phương Đông và phương Tây hài hòa khiến ta choáng ngợp vì sự bề thế, xa hoa. Tòa biệt thự này được thiết kế bởi kiến trúc sư người Pháp tên Rivera vào năm 1929 và được hoàn thành vào năm 1934, do con trai trưởng của Chú Hỏa quản lý.
Theo bản thảo ban đầu tòa biệt thự có 100 cánh cửa. Tuy nhiên, khi duyệt sơ đồ kiến trúc, viên toàn quyền người Pháp bắt buộc phải bỏ một cửa và không cho mở cửa cổng chính vì cổng này lớn hơn cổng của Dinh Toàn quyền (nay là Dinh Độc Lập). Tòa biệt thự này cũng là nơi đầu tiên sử dụng thang máy ở Sài Gòn.
Cổng chính của tòa nhà còn lớn hơn cổng của Dinh Toàn Quyền.
Trong nhà có trang bị hệ thống thang máy hiện đại.
Sau biến cố 1975, gia tộc họ Hứa di tản sang Pháp để sinh sống. Ngôi dinh thự này được chính quyền mới tiếp quản, đến năm 1987 thì dùng làm nhà Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM.
Tất cả các căn phòng trong biệt thự được tận dụng làm phòng triển lãm, tuy nhiên vẫn có một số căn phòng được đóng kín không sử dụng và dán niêm phong cẩn thận. Và giờ hoạt động của Bảo tàng khá ngắn, từ 9h đến 17h mỗi ngày.
Dọc hành lang có những căn phòng được dán niêm phong cẩn thận.
Là những phòng không được phép sử dụng…
Trò chuyện với bác Biên (bảo vệ Bảo tàng) về câu chuyện xung quanh giai thoại con ma nhà họ Hứa, chú cho biết: “Câu chuyện được kể từ người này sang người khác thì đương nhiên sẽ có dị bản. Cũng như chuyện vì sao Chú Hỏa lại giàu như vậy, trong một thời gian ngắn có thể sở hữu 20.000 căn nhà mặt phố ở Sài Gòn. Có người kể là do ông ta đi bán ve chai nhặt được vàng. Có người cho rằng gia tộc ông là gia tộc giữ ngân khố của triều đình nhà Minh, khi nhà Minh bị Mãn Thanh đánh bại, gia tộc ông Hứa đem theo số vàng ấy chạy sang Việt Nam để lập nghiệp. Thế nhưng dù vì lý do nào, nếu Chú Hỏa không tài giỏi trong việc nắm bắt thời cơ và nhạy bén trong kinh doanh thì ông cũng sẽ không có được một cơ ngơi bề thế như vậy”.
Khu sân thượng đã khóa cửa, không thể lên, nơi đây có một bức tượng kỳ lạ chỉ có phần đầu.

Biểu tượng gà trống quyền uy được đặt tại đây.
Chú bảo vệ dẫn tôi ra phía sau tòa biệt thự, nơi có một phiến đá hoa cương ghi lại vị trí phòng ở của các thành viên trong gia đình họ Hứa. Chú Biên cho rằng trên tấm đá này không có tên của vị tiểu thư họ Hứa, vì thế ở đây không có căn phòng ma mà mọi người đồn đại.
Những nhân viên và người bảo vệ làm việc tại đây cũng cho biết đó chỉ là những lời đồn được thêu dệt nên để thêm phần gay cấn cho giai thoại này.
“Bệnh phong cùi của Hứa Tiểu Lan – một căn bệnh hoàn toàn có thể xảy ra với bất kỳ ai, không ngoại trừ con gái của đại phú hào. Thời đó phong cùi là căn bệnh vô phương cứu chữa, thế nên chuyện tiểu thư than khóc khi còn sống là hoàn toàn có căn cứ để tin. Tuy nhiên, dân gian vẫn thường hay thêm bớt tình tiết để câu chuyện thêm phần liêu trai. Vậy nên khi tiểu thư đã mất, người ta mới đồn đại nhiều tình tiết vào, nói là oan hồn của Hứa Tiểu Lan còn vương vấn, nhưng chúng tôi làm việc nhiều năm ở đây cũng chưa thấy những điều bí ẩn như thế bao giờ” – chú bảo vệ tâm sự.
Phiến đá khắc vị trí phòng của các thành viên trong nhà, được viết bằng tiếng Pháp.
Quay lại lịch sử ngôi nhà, chúng ta có thể thấy Chú Hỏa mất năm 1901, nhưng tòa biệt thự được xây năm 1929, nghĩa là tòa biệt thự này được con trai ông xây lại trên nền tòa biệt thự cũ, vì vậy sự thiếu vắng căn phòng của Hứa Tiểu Lan là có thể lý giải được.
Thế nhưng theo một số ghi chép thì vào năm 2006, một người tên là Eddie Hui-Bon-Hoa (con cháu của Chú Hỏa) khẳng định ông Hui Bon Hoa chỉ có ba người con trai, lần lượt mang tên là: Huỳnh Trọng Huấn (Tang Huon Hui Bon Hoa), Huỳnh Trọng Tán (Tang Chanh Hui Bon Hoa) và Huỳnh Trọng Bình (Tang Phien Hui Bon Hoa). Nghĩa là Chú Hỏa không có người con gái nào cả.
Những bí ẩn của gia đình họ Hứa sẽ mãi mãi theo Chú Hỏa nằm sâu trong lòng đất.
Trong quyển sách tựa đề là “Ngôi mộ cổ nhà họ Hứa” của tác giả Phạm Phong Dinh có viết: “Cô con gái Chú Hỏa tên là Hứa Tiểu Lan mất vì bệnh nan y, được chôn cất trong ngôi mộ cổ cạnh nghĩa trang Biên Hòa…
Vậy liệu có phải ông Hứa chỉ có 3 người con trai, và sự tồn tại của cô con gái út chỉ là lời đồn nhảm. Có lẽ bí mật ấy sẽ mãi mãi được chôn theo Chú Hỏa và những người con của ông dưới những lớp đất sâu. Dù thế nào chúng ta vẫn luôn biết ơn gia đình Chú Hỏa vì những công trình mà họ đã để lại cho đời sau – những công trình luôn khiến người Sài Gòn tự hào mỗi khi nhắc đến.
Theo Trí Thức Trẻ

Những chuyện tình của nghệ sĩ Thanh Nga – Hồng nhan bạc mệnh



Những năm 1960-1970, người Sài Gòn không ai không biết đến cái tên Thanh Nga, một mỹ nhân với tài sắc vẹn toàn. Cố Nghệ sĩ Thanh Nga tên thật là Nguyễn Thị Nga, con gái của trưởng đoàn hát Thanh Minh Thanh Nga nổi tiếng một thời. Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống nghệ thuật nên ngay từ nhỏ bà đã được thừa hưởng tố chất của một người nghệ sĩ. Cái tên Thanh Nga đã là một “tượng đài” trong nghệ thuật cải lương của Việt Nam.
Không chỉ nội tiếng bởi tài năng thiên bẩm trong lĩnh vực sân khấu, Thanh Nga còn được nhiều người biết đến như một mỹ nhân của Sài Gòn. Gương mặt thanh tú, đôi mắt thu hút cùng nụ cười duyên dáng đã tạo nên một vẻ đẹp rất đặc biệt. Chính nét yêu kiều, quý phái này đã khiến bao người say mê.
Chiêu theo đuổi cười ra nước mắt của cậu chủ kem đánh răng
Yêu mến tài sắc của người nghệ sĩ tài năng Thanh Nga, cậu Nghĩa chủ hãng kem đánh răng lớn ở Sài Gòn đã gây ấn tượng với cô bằng một chiêu thức rất độc đáo.
Vì là chủ hãng kem đánh răng Hynos nên cậu Nghĩa mang rất nhiều thùng kem và bàn chải đánh răng đến phòng bán vé đoàn Thanh Minh-Thanh Nga (rạp hát của mẹ Thanh Nga). Ban đầu, mỗi khán giả mua vé thượng hạng và hạng nhất đều được tặng một cây kem đánh răng lớn cùng hai bàn chải. Sau này, để gây ấn tượng mạnh hơn, cậu Nghĩa tặng quà cho tất cả khán giả đến mua vé. Cách làm độc đáo này đã giúp đoàn của Thanh Nga bán được nhiều vé hát và đồng thời đây cũng là cách quảng cáo kem đánh răng của ông chủ này.
Quảng cáo kem đánh răng Hynos
Chiêu theo đuổi bằng kem đánh răng này có thể được xem là một cách phô trương thanh thế của cậu Nghĩa với mong muốn chiếm được tình cảm của mỹ nhân. Tuy nhiên, trong mắt người đẹp Thanh Nga, cách gây ấn tượng này chưa bao giờ khiến cô xao động.
Mối tình đầu từ những bông hồng
Mối tình đầu của Thanh Nga tới khi cô đã thành danh trong sự nghiệp, ở giai đoạn đỉnh cao của danh vọng. Khi ấy, tuy có vô số những món quà đắt tiền mà các chàng trai tặng cho Thanh Nga, cô chỉ để ý đến nhành hoa hồng đều đặn được gừi đi từ một người hâm mộ giấu mặt.
Tò mò và thích thú, cô tìm mọi cách để biết được tung tích của con người đặc biệt này. Chàng trai ấy là Nguyễn Văn Tài, tốt nghiệp bằng Cao học Thương mãi ở Pháp, hiện là chủ nhiệm báo Phòng Thương mãi Sài Gòn. Thanh Nga nhanh chóng bị hớp hồn bởi vẻ ngoài thư sinh cùng tâm hồn lãng mạn của Tài. Nhưng khi tình cảm của Thanh Nga vừa chớm nở thì đột nhiên Tài mất tích. Sau này, Thanh Nga mới biết Nguyễn Văn Tài là Đảng viên ĐCS Pháp về Việt Nam hoạt động, khi bị lộ đã phải rút lui.
Công tử tòa báo xây cả một nhà hát tặng Thanh Nga
Cậu Ba Thành, con chủ báo Saigon Mới thể hiện tình cảm của mình với mỹ nhân Thanh Nga bằng cách lấy lòng mẹ cô.
Cậu đã giúp cả gánh hát nhà cô đầu tư hơn về mặt hình ảnh bằng cách thuê hẳn một ê kip chuyên lăng xê cho đoàn. Cậu Thành tìm kiếm những họa sĩ giỏi nhất thời ấy để vẽ quảng cáo, tranh cảnh, phông nền cho rạp. Đặc biệt hơn, để đoàn hát nổi tiếng, cậu còn nhờ các ký giả viết nhiều bài báo giới thiệu các vở tuồng hay, diễn viên tài năng của đoàn. Trong số những bài báo ấy, bài viết ca ngợi nhan sắc và tài diễn xuất của Thanh Nga chiếm nhiều nhất.
Không dừng lại ở đó, cậu Ba Thành còn có nhã ý tặng cho Thanh Nga cả một rạp hát mới xây, nhưng đã bị mẹ cô từ chối.
Cất công theo đuổi là thế nhưng Thanh Nga chưa một lần để mắt đến chàng công tử hào hoa này. Vì đối với cô, những cách thể hiện tình cảm bằng quyền lực, tiền bạc không bao giờ làm cô lay động.
Thanh Nga – Thành Được và chuyện tình từ sân khấu
Gặp gỡ từ vài lần cộng tác trên sân khấu, Thanh Nga và Thành Được ban đầu vốn chỉ xem nhau như đồng nghiệp. Lúc ấy Thành Được đã có vợ là nghệ sĩ Út Bạch Lan, còn Thanh Nga chỉ mới ở tuổi thiếu niên.
Sau này, khi Thành Được chia tay với Út Bạch Lan, ông bắt đầu nảy sinh tình cảm với Thanh Nga từ những dịp đóng cùng nhau các vai diễn trên sân khấu trong các vở Con gái chị Hằng, Đoạn tuyệt, Người yêu của Hoàng Thượng…
Thành Được say đắm Thanh Nga mà không được đáp lại. Ông đã đeo đuổi và dùng cả thế lực ngoài đời để chinh phục cho bằng được Thanh Nga. Tuy nhiên khi hai người đã nên duyên thì Thành Được lại mãi mê đuổi theo những hình bóng giai nhân khác – là nguyên nhân làm cho Thanh Nga quyết định rời xa ông để lập gia đình.
Sau này, nghệ sĩ Thanh Kim Huệ trong một chuyến du lịch sang Mỹ gặp Thành Được bên đó mới hỏi ông rằng: “Nay đã qua ngưỡng thất thập cổ lai hy rồi, ngẫm lại trên đường tình anh thấy thương ai nhất?”. Thành Được đáp: “Đến bây giờ, tôi thương Thanh Nga nhất, cô ấy là một nghệ sĩ có tâm tính hiền lành, trong sáng”. Có thể nói mối tình đó đã để lại trong lòng Thành Được nhiều trăn trở không nguôi.
Cuộc hôn nhân bất ngờ với Đại úy Mẫn
Đại úy Nguyễn Minh Mẫn là người phụ trách an ninh kho Long Bình. Trong số những anh chàng theo nghiệp nhà binh, Đại úy Mẫn là người theo đuổi Thanh Nga rất kiên trì. Ông Mẫn yêu Thanh Nga lúc bà đã sáng chói trên sân khấu cải lương. Ngoài đời, Thanh Nga duyên dáng và có sức hút lớn với người đối diện nên Đại úy Mẫn đem lòng say mê. Đại úy Mẫn không phải là nghệ sĩ nhưng ông có tâm hồn tài tử bởi thế ông càng say đắm Thanh Nga. Sau khi chia tay Thành Được, Thanh Nga nhanh chóng tuyên bố cưới Đại úy Mẫn. Tin đó khiến ai cũng phải bất ngờ.
Tháng 11 năm 1967, Thanh Nga và Đại úy Mẫn tổ chức lễ cưới. Thanh Nga trong chiếc áo cưới bước lên xe hoa chính thức cùng người chồng là Đại úy Nguyễn Minh Mẫn. Trong ngày cưới bỗng nhiên một người đàn bà dẫn con đến, mới biết ông Mẫn đã có vợ con ở quê nhà. Người phụ nữ được đưa vào buồng riêng thu xếp để đám cưới không bị bể.
Tiệc cưới được tổ chức linh đình tại nhà hàng, báo chí và nghệ sĩ tham dự rất đông. Rượu Champagne nổ dòn, cuộc vui tưởng chừng như bất tận. Nhưng chưa được bao lâu, thì Đại úy Mẫn phải ra toà lãnh án về tội lạm công quỹ.
Thanh Nga phải sống trong những ngày đoạn trường và phải đối mặt với dư luận. Thanh Nga – Nguyễn Minh Mẫn làm đám cưới nhưng không có hôn thú nên hôn nhân tự tan vỡ khi ông Mẫn đang ở tù.
Cuộc tình cuối bên người chồng Phạm Duy Lân
Có thể nói cuộc đời Thanh Nga là một chuỗi nhưng thăng trầm trong chuyện tình yêu. Và dường như bến đỗ hạnh phúc đích thực dành cho cô xuất hiện khi cô gặp và lấy Phạm Duy Lân. Một mối tình có thể nói là định mệnh.
Vợ chồng Thanh Nga – Phạm Duy Lân
Tết Kỷ Dậu năm 1969, Thanh Nga sang Pháp biểu diễn theo gợi ý của Bộ thông tin. Đoàn do ông Phạm Duy Lân – Đổng lý văn phòng Bộ Thông dẫn đầu. Và Phạm Duy Lân đặc biệt quan tâm đến Thanh Nga. Chuyến lưu diễn kéo dài hai tháng và thu được những thành công. Trở về từ chuyến lưu diễn đó, Thanh Nga và Phạm Duy Lân chính thức kết hôn.
Dù trải qua nhiều mối tình và một cuộc hôn nhân đổ vỡ nhưng cuối cùng Thanh Nga cũng gặp được người đàn ông của đời mình. Phạm Duy Lân yêu thương vợ, đi đâu cũng tháp tùng, bên cạnh vợ 24/24. Theo lời kể của Nghệ sĩ Kim Cương: “Hầu như anh Lân tháp tùng bên cạnh vợ 24/24. Thậm chí, mỗi lần Thanh Nga tắm, anh ấy cứ đứng trước cửa nhà tắm chầu chực sẵn. Là bạn bè thân, chúng tôi thường trêu: “Ông cứ đi đi, Thanh Nga nó ở trong nhà tắm thì ai mà bắt cóc được. Anh Lân chỉ lặng lẽ nói: “Đứng đây để tiện có gì Nga kêu còn nghe, chứ đi xa lỡ có việc gì Nga kêu không nghe. Tôi chưa thấy người nào thương vợ như anh Lân”.
Có thể nói cuộc tình của Thanh Nga và người chồng Phạm Duy Lân là cuộc tình định mệnh của đời bà. Sau khi kết hôn với Phạm Duy Lân, bà sinh được một con trai là Phạm Duy Hà Linh.
Nhưng rồi cuộc sống êm đềm và hạnh phúc của Nghệ sĩ Thanh Nga bên người chồng Phạm Duy Lân khép lại bằng cái chết đầy bi kịch của cả hai vợ chồng do bị ám sát năm 1978.
Tổng hợp

Cafe Tùng Đà Lạt xưa – nơi gặp gỡ một thời của giới tinh hoa miền nam

Lịch sử của Tùng nổi tiếng của xứ sở sương mù Đà Lạt gắn với một phần lịch sử di cư của người Việt lên miền cao nguyên Lang Bian lập nghiệp; đó chính là một mảnh vi lịch sử về đời sống người phương Bắc nhập cư Đà Lạt ở giai đoạn sớm.
Chủ quán cafe Tùng đã tìm đến với thành phố cao nguyên này sớm hơn đợt di cư năm 1954. Ông thuộc trong nhóm người Hà Nội đến Đà Lạt quãng thập niên 1940.
Kinh doanh cafe không phải là ngành nghề kiếm sống ban đầu của gia đình ông bà Trần Đình Tùng – Lê Thị Giác (đều sinh năm 1927). Trước năm 1955, những con phố ở trung tâm Đà Lạt hãy còn thoáng rộng, một vài chỗ còn đầm lầy, nhiều nếp nhà tranh của người Việt dựng lên tạm bộ dưới những tán thông. Thời này ông Tùng làm công chức ở Nha Địa dư Quốc gia. Sau đó, rời việc công chức nhàm chán, ông đi làm thợ hớt tóc. Rồi nghề thợ hớt tóc đến lúc cũng không đủ sống, ông chuyển qua học chế biến, pha chế cafe. Ông mày mò nghiên cứu văn hoá cafe từ những tài liệu người Pháp để lại và nuôi mộng mở một quán cafe nhà phố vừa mang tinh thần Pháp – Âu lại vừa thân thiện, công năng thức thời kiểu Mỹ trong không khí chuyển giao lịch sử (giá trị Mỹ đang dần tạo ra ảnh hưởng cùng với sự xuất hiện ngày càng ồ ạt của người Bắc trong đợt di cư lớn của những ngày đầu thời tổng thống Ngô Đình Diệm).
Ban đầu, cafe Tùng không nằm ở địa điểm số 6 khu Hòa Bình như bây giờ.
Năm 1955, ông Trần Đình Tùng khai trương quán ở địa chỉ  kiosque số 5 đường Thành Thái, bên cạnh có nhà in, hiệu sách Đà Lạt khá nổi tiếng. Cafe Tùng thời điểm này trội hơn một số tiệm cafe khác ở trung tâm, thứ nhất bởi địa thế đẹp, nhà mặt phố khang trang có tầm nhìn từ đỉnh đồi ngó xuống bờ hồ (dù phố xá thời kỳ này thì còn hiu hắt lắm, chưa có nhiều nhà cửa hay công trình để ngắm nghía).
Ông Trần Đình Tùng
Ngoài ra, Tùng mang lại một không gian sang trọng khác biệt, nhất là với âm nhạc: giọng ca Edith Piaf, Yves Montand hay Dalida đã được cất lên từ bộ loa thùng nhỏ trong góc kiosque ấm áp nơi góc phố cao nguyên còn đậm sắc thái văn hoá Pháp. Dòng nhạc từ Châu Âu xa xôi như gọi về giấc mơ về một tiểu Paris hay thủ phủ liên bang Đông Dương vừa vụt qua trong chớp mắt lịch sử.
Trụ được ở kiosque số 5 Thành Thái trong vài ba năm, thì qua một đợt chỉnh trang trung tâm, quán cafe Tùng phải dời đi, lần này thì chuyển đến một kiosque dãy nhà bên hông Chợ (cũ) Đà Lạt, nay là rạp Hòa Bình. Thời kỳ này neo đậu không lâu. Là người từng làm Nha Địa dư, ông Tùng có lẽ cũng nắm một số phong thanh thông tin quy hoạch để biết rằng, đây chỉ là giai đoạn dừng chân tạm thời để duy trì hoạt động của quán trước khi kiếm được một địa điểm ổn định hơn.
Chợ Đà Lạt
Năm 1958, chợ Đà Lạt hiện nay (gọi là Chợ Mới) được bắt đầu xây dựng theo bản thiết kế của kiến trúc sư Nguyễn Duy Đức, nhà thầu Nguyễn Linh Chiểu thi công (về sau, kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế “bổ sung” một lối đi bắc ngang qua khu Hòa Bình). Năm 1960 Chợ Mới khai trương, kéo theo cuộc giải tỏa dãy kiosque bên hông Chợ Cũ. Trung tâm Đà Lạt lại trải qua một đợt chỉnh trang lớn. Lần này, gia đình ông Trần Đình Tùng mới cho dời quán cafe sang tầng trệt nhà phố số 6 khu Hòa Bình và định vị ở đó cho đến bây giờ.
Khu Hòa Bình
Như vậy, trước khi an cư ở địa chỉ hiện tại thì cafe Tùng đã hai lần di dời trong vòng 5 năm, từ năm 1955 đến 1960. Trong hai lần đó, gia đình ông Tùng tạm gọi là bắt mạch được phong cách thưởng thức cafe của người Đà Lạt, đặc biệt là giới tri thức, công chức tinh hoa. Vợ chồng ông tự rang, xay cafe theo một công thức riêng, trung thành với kiểu cafe pha phin – một lối thưởng thức cafe của người ưa sống chậm, âm nhạc được chọn theo mọt gu riêng, đậm chất Pháp và thẩm mỹ không gian quán xá được thiết kế theo một phong cách riêng, ấm áp, thân thiện và lịch thiệp. Không gian của cafe Tùng có sự dung Hòa những giá trị Pháp qua âm nhạc, tranh ảnh mang vẻ hoài niệm cùng phong thái phục vụ đậm tính chất gia đình nề nếp truyền thống Việt Nam trong một thiết kế đề cao tính tiện nghi, cởi mở kiểu Mỹ. Nơi Tùng, những giá trị có tính quốc tế được nuôi dưỡng từ một bối cảnh lịch sử đặc biệt của thành phố, mà hình thành bản sắc, nhất quán cho đến mãi về sau này..
Một bức ảnh đầu thập niên 1960 chụp cảnh ông Trần Đình Tùng đứng ở quầy bar của quán, vận đồ véton, tóc rẽ ngôi giữa, khuôn mặt gầy nhưng vóc dáng thư sinh – đang chăm chú tính toán sổ sách. Cạnh ông là hai đầu đọc đĩa than, bộ amply và loa, trên tường có dán một mẫu quảng cáo thuốc Bastos (đây là loại thuốc nặng, phổ biến ở Đà Lạt có lẽ một phần bởi thời tiết lạnh lẽo, cũng có thể bản thân thương hiệu này gắn với gu thưởng thức thuốc lá của dân Tây công chức thời thuộc địa và có ảnh hưởng đến cư dân Đà Lạt về sau chăng?!) và bức ảnh một phụ nữ ăn vận rất “à la mode” có lẽ được cắt ra từ một mẩu bích chương quảng cáo hay trang tạp chí nào đó.
Cafe Tùng, ròng rã thập niên 1960 và nửa đầu 1970 có thể coi là một quán cafe đô thị có sức hấp dẫn đặc biệt với giới tinh hoa, ưu tú của Đà Lạt và miền Nam. Đôi tình nhân nghệ sĩ Lê Uyên và Phương từng chọn Tùng làm nơi hò hẹn. Khi đã là vợ chồng, họ vẫn chọn một góc ở Tùng làm nơi bên nhau hàng ngày, tay trong tay nhìn ngày mới lên, nhìn màn đêm phủ xuống thành phố và ước nguyện “có yêu nhau ngọt ngào tìm nhau”.
Phía sau cánh cửa kính đón ánh sáng những ngày mùa đông mây xám, Nguyễn Thị Lệ Mai, với mảnh đời riêng đầy đa đoan từng ngồi đếm từng giọt cafe rơi và nghĩ và nghĩ về một tương lai vô định. Hẳn lúc ấy cô không hình dung được rằng, một ngày nào đó giọng ca của mình sẽ cất lên trên chiếc loa thùng của quán cafe này với thứ âm nhạc phản chiến của một chàng nhạc sĩ còn ủ dột u sầu ở xó núi B’lao mà làm xiêu đổ biết bao trái tim cư dân trong thành phố, con dân trên đất nước thời loạn li.
Về sau, Lệ Mai, tức ca sĩ Khánh Ly, nhớ lại:
“Một thời 20 rất bụi đời, rất vỉa hè. Đến như gió. Đi như gió. Từ đâu tới. Đi về đâu. Không biết. Không cần biết. Đáng yêu biết bao những ngày tháng sống lãng đãng như mây trời, biển khơi. Phà khói thuốc vào sương mù Đà Lạt. Buổi sáng thức dậy, ngửi mùi thơm của thông. Nghe thông reo nhè nhẹ. Mặc áo len cổ tròn, quàng cổ, quần jean, thế là… xuống phố.
Có lúc đi giữa mưa vẫn nghe tiếng chân mình rộn rã reo vui trên mặt đường loang nước ở ngã tư. Xe đò, xe lam từ hướng Chi Lăng chạy ra. Bước lên xe ngồi xuống. Bao giờ tôi cũng ngồi ngoái lại trường tiểu học Phan Chu Trinh nằm bên kia đường.
Tôi đã học ở đây năm 1956. Xe qua nhà vãng lai dành cho các sĩ quan Không Quân nghỉ mát. Qua ga xe lửa. Tiệm phở ở ga ăn cũng khá. Đổ một con dốc. Rồi một con dốc nhỏ nữa, qua nhà thương Soyer, trường Yersin. Xe cứ chạy. Bên trái là sân vận động, sân tennis. Khách sạn Palace. Đường rẽ lên nhà thờ chính toà Đà Lạt. Bên phải là Hồ Xuân Hương. Vòng theo một bùng binh. Ngang qua khu quân vụ thị trấn, xe đò lên dốc. Vào bến đậu ngay cạnh cafe Tùng. Vào làm một ly đã. Mọi chuyện tính sau. Ngày nào cũng thế, năm nào cũng thế. Không thay đổi.
Cũng nơi dãy ghế da liền cũ kỹ, trước những chiếc bàn gỗ bọc nhựa mica trắng im hơi, Phạm Công Thiện đã ngồi hàng giờ nhìn khói thuốc và trầm tư về thi ca, về thân phận và cách xoay chuyển tinh thần cá nhân trong một thực tại u ám bởi chiến tranh. Chàng trẻ tuổi đương nhiên triển khai trong đầu những gì là “ý thức mới trong văn nghệ và triết học”…
Cũng ở một chỗ nào đó của Tùng, một chiều sương xám của thuở phố phường còn tịch lặng, trung niên thi sĩ Bùi Giáng xé vỏ thuốc lá mà biên mấy câu thơ giã từ lộng lẫy buồn:
Buổi sớm hôm buồn tinh tú ai ngừa
Bàn chân bước vơi tay buông kể lể
Trời với đất để lòng em lạnh thế
Hoa hương ơi còn diễm lệ bao giờ
Những ân tình đầu liễu rũ lơ thơ
Còn hay mất trong trăng mờ khuya khoắt
Cũng tại đây, chắc Từ Công Phụng, chàng sinh viên gốc Chăm đến từ đất nắng Phan Rang cũng từng có nhiều buổi chiều băn khoăn về tình yêu để rồi vượt qua những bỡ ngỡ rụt rè với âm nhạc thuở ban đầu, chia sẻ với bạn bè những câu hát đẹp như kẻ mộng du đi chới với trong vùng khói sương hư thực, đánh rơi ý niệm về thời gian và không gian:
Bây giờ, tháng mấy rồi hỡi em
Lênh đênh, ngàn mây trôi êm đềm…
Nhiều trí thức danh nhân đã lặng lẽ bước trên nền gạch bông cũ để chọn cho mình một chỗ ngồi, nhưng nói đúng, là dọn cho mình một tâm thế sống, rồi thư thái nhìn cuộc đời lướt qua bên ngoài, nhìn thời gian lặng trôi, chiêm nghiệm nhân thế thời ly loạn bên ly cafe. Họ gặp ở đó không gian mà mỗi hiện tại đều nhanh chóng kết tủa thành Hòai niệm rồi cũng tự mình đắm đuối với thời gian đã mất. Họ gặp ở đó chút ấm cúng của một nhân quần nhỏ biết khắc khoải suy tư hay băn khoăn về thân phận mong manh của con người trong thời chiến, gặp ở đó cả những mảnh tình đa đoan trôi dạt trên quê hương thống khổ mà luôn thừa mứa mộng mơ.
Vào mỗi tối thứ 5 hàng tuần, họ vẫn tiếp tục chiêu diêu trong khí quyển tinh thần của những bản pop mang đậm sắc thái Francophone với “Ýe ýe” hậu chiến có màu tươi sáng và giễu cợt số phận, mà đại diện tiêu biểu là: Adamo, Johnny Hallyday, Sylvie Vartan, France Gall, Francoise Hardy, Claude Francois, Christophe hay Jacques Brel…
Trong tạp ghi về Đà Lạt của một lữ khách về giai đoạn này, có dành những dòng nâng niu dành cho Tùng:
“Tất cả những gì có từ ngày cafe Tùng bắt đầu sáng nghiệp, đến nay không thay đổi. Giữa cái lạnh sắt se của trời đêm Đà Lạt, ngồi trong quán cafe Tùng nhìn từng ngọn đèn đường mờ ảo qua ô cửa kính, người ta thật sự cảm nhận trọn vẹn sự thơ mộng của thành phố mù sương. Những hôm quá lạnh, cafe Tùng là lò sưởi làm ấm lòng lữ khách. Nhưng cũng có người không ngại ngồi trên balcon – chỉ có một bàn duy nhất – nhìn xuống đường, để thưởng thức sự rét mướt bao phủ khắp núi đồi Đà Lạt.
Những ai ở Đà Lạt trong thập niên 1960, 1970 đều biết: Thứ Năm là ngày Cà Phê Tùng cho khách nghe nhạc Pháp. Dĩa hát của những giọng ca vàng từng ngân vang trong quán, như Francoise Hardy với Tous les garcons et les filles, Ton meilleur ami, Sylvie Vartan trình bày thật vui tươi La plus belle pour aller danser, En écoutant la pluie, Quand le film est triste, Dalida tài danh thể hiện Bambino, L’histoire d’un amour, Besame mucho, Christophe hát Main dans la main hay Charles Aznavour trầm ấm lả lướt với ca khúc Et moi dans mon coin.”
Ở Tùng, không gian không lấy gì làm cầu kỳ. Những bộ bàn ghế gỗ đơn sơ được đóng từ năm 1953, bằng tuổi anh con trai trưởng trong gia đình ông Tùng mà đến nay vẫn còn hữu dụng. Dàn âm thanh cũng vậy. Năm 1965, ông Tùng lặn lội xuống quân cảng Cam Ranh, để mua cặp loa hàng PX (viết tắt của Post exchange, dịch vụ phân phối hàng hoá dành cho quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam) có âm thanh ấm, có thể kết nối để nghe âm thanh analog từ chiếc máy đọc đĩa than. Cũng sau hơn nửa thế kỷ, cặp loa ấy vẫn còn được sử dụng ở Tùng.
Tùng vẫn là một thánh đường hò hẹn và là điểm đến để đốt thời gian. Ở Tùng, ngoài nghệ sĩ, những lữ khách có tên tuổi ra, thì có thể gặp các sĩ quan trường Võ bị Đà Lạt, giáo sư, sinh viên trường Chiến tranh Chính trị, giới nghiên cứu ở Trung tâm Nghiên cứu Nguyên tử Đà Lạt hay giảng viên Viện Đại Học Đà Lạt… Ngày đó, ông Tùng giữ nề nếp ngôi quán này đến nỗi, chỉ tuyển đàn ông làm xẹc – via (phục vụ) cùng với người trong gia đình để đảm bảo một thể diện “an toàn” cho quán.
Nhưng Tùng vẫn là một phân khúc hơi cao trong thời bấy giờ trong một thành phố lạnh và thưa dân. Ông Trần Đình Tùng có nghĩ đến một nhóm khách hàng khác, đó là giới bình dân. Nên ngoài cafe Tùng, vợ chồng ông mở quán Đôminô ở khu bến xe cũ. Một dạng quán cà phê cóc ngày nay. Bà Sáu, người giúp việc cho gia đình ông Tùng được giao trông lo quán cà phê Đôminô.
Là quán bình dân, nhưng cách phục vụ gần gũi, nhỏ nhẹ của bà Sáu cộng với sự thân tình của một người giúp việc gắn bó với gia đình ông Tùng suốt 20 năm khiến nhiều khách vào quán này cứ nghĩ bà là em vợ của ông Tùng. Ở dãy cà phê bến xe cũ, gần Đôminô, có quán cà phê Long, cà phê Bà Năm được giới bình dân, tri thức nghèo yêu thích. Cà phê Bà Năm cho đến nay vẫn còn, nhưng dời về đường Phan Bội Châu. Hai chị em Bà Năm cho đến nay vẫn đứng quán theo cách pha chế cà phê vớ (cà phê kho) ngày cũ, thành phần khách vẫn không đổi – đó là giới bình dân tứ chiếng, người lao động nghèo.
Ngày đó, sĩ quan trường võ bị Đà Lạt mặc đồ lịch sự thì vào Tùng ngồi, có hôm túi tiền eo hẹp, ra phố không muốn ai nhòm ngó, ăn vận xuyềnh xoàng thì vào Đôminô. Ở Đôminô vẫn bán cà phê do gia đình ông Tùng rang, xay, nhưng nhiều người Đà Lạt không có thói quen ngồi quán vẫn thường ghé lại Đôminô mua một ký cà phê bột do quán Tùng chế biến để về nhà pha phin uống nhâm nhi. Rẻ, chủ động.
Một trong những điểm đặc biệt trong cách bài trí quán của ông chủ mang lại không khí văn nghệ, trí thức thời điểm thập niên 1960 – 1970, ngoài âm nhạc tuyển chọn có gout văn hóa thị dân khá cao, thì còn là những bức tranh trên tường. Cà phê Tùng có không khí của một phòng triển lãm, dù mỗi một lúc, ở trên các bức tường ngôi quán này treo không được quá nhiều tranh. Nhưng ông Trần Đình Tùng là một người yêu tranh. Ông thuộc số ít những người Đà Lạt chịu chi tiền mua, sưu tầm tranh của các hoạ sĩ trẻ đương thời.
Tại cuộc triển lãm tranh sơn dầu Đinh Cường vào dịp Giáng Sinh năm 1965 ở Alliance francaise de Dalat hay triển lãm tranh ở thư viện Đà Lạt do Hội Việt Mỹ tổ chức, ông đã chọn mua nhiều bức tranh của Nghiêu Đề, Đinh Cường, Vị Ý, Cù Nguyễn, Thái Lãng,… về treo trong quán và tạo ra bộ sưu tập nhỏ cho riêng mình. Bộ sưu tập tranh của ông có đến vài ba chục bức, đa phần là tranh theo trường phái lãng mạng, bút pháp nhẹ nhàng của những hoạ sĩ trẻ mới nổi của miền Nam.
Nói về lịch sử những bức tranh trong không gian cà phê Tùng cùng bộ sưu tập của ông chủ quán, cũng là một dịp lần dở lại những trang ký ức đầy đau đơn.
Những ngày đầu tháng 4 năm 1975, Đà Lạt trời đậm đặc mùi thuốc súng của chiến tranh, ông Tùng đóng cửa quán, dắt díu mười hai người con chạy về Nha Trang. Ông Tùng cân nhắc rồi chọn những bức tranh thuộc trong số những kỷ vật giá trị của gia đình, nhất định phải mang theo. Ông chọn một số tranh ưa thích, rồi sai mấy đứa con tháo khung, cuộn và buộc chúng lại, vác theo suốt hành trình di tản. Một số khác vẫn để lại trong quán.
Sau sự kiện tháng 4-1975, Hòa bình lập lại, vợ chồng ông cùng các con trở về ngôi quán xưa. Ông Tùng đau đơn khi nhìn thấy cảnh tan hoang. Nhiều tài sản quý giá trong quán đã bị hôi của, một số bức tranh quý đã bị rạch phá. Bà Giác nhìn chồng chết lặng trong đau buồn, vì thương chồng, người đàn bà quen việc nội trợ và hàng quán này chỉ biết cùng mấy đứa con kêu thợ đóng khung, căng lại những bức tranh lấm khét khói bụi sau dặm đường xa, rồi cũng đích thân bà đi lấy xà phòng, bàn chải mà… giặt lại chúng, lại treo lên tường.
Cũng may, những bức tranh sơn dầu, acrylic trên bố ở thời điểm đó được sử dụng toàn chất liệu tốt, nên đến nay, màu sắc có biến đổi chút ít, nhưng hình và nét thì vẫn còn. Trong quán cà phê Tùng về sau này, vẫn còn họa phẩm Người chơi đàn guitar của Vị Ý. Bức tranh bán lập thể vẽ dáng một nghệ sĩ guitar cô độc với chiếc bóng đen đổ dài trên nền tranh nâu khô. Dáng người gãy đổ như muốn ra khỏi không gian khung tranh vẫn còn ngân vang một nỗi cô đơn sâu thẳm. Bức Chân dung thiếu nữ của Cù Nguyễn thấp thoáng nỗi băn khoăn xa vắng của một thời kỳ lãng mạn đã qua. Bức Thiếu nữ xanh của hoạ sĩ Đinh Cường với sắc thái lãng mạn phù hư và khắc khoải hoài niệm – một phong cách đặc thù Đinh Cường.
Tranh Người chơi đàn guitar của Vị Ý
Qua thời gian, tất cả mọi mặt tranh trong quán đều xuống màu, hư hao.
Trong một lần về Đà Lạt, hoạ sĩ Đinh Cường đã tìm đến Tùng và mua lại bức tranh Thiếu nữ xanh của mình để đem về Mỹ phục chế.
Về sau này, khi thay cha mẹ đảm đương công việc của quán, ông Trần Đình Thông – người con trai trưởng của gia đình – thường dùng mủ khoai tây để đánh lại những bức tranh trong quán khi thấy chúng bám bụi hay bay màu (!).
Những bức ảnh chụp cà phê Tùng của thập niên 1950 và đầu thập niên 1960 trên nước hình đen trắng không chỉ mô tả không gian quán, lưu giữ hình ảnh thời trẻ lịch lãm của ông chủ quán mà mã hoá ở đó cốt cách tao nhã của tầng lớp tinh hoa của một đô thị tri thức. Mặt sau của những bức ảnh, dĩ nhiên, luôn là những khoảng trắng giữa những câu chuyện, những “huyền thoại phố phường” về một thời đã qua.
Với những ai hiểu những thăng trầm của góc quán nhỏ này, sẽ nhận ra ở Tùng, có khi con người tự nguyện chìm đắm trong cõi mù sương ký ức, buông lơi hiện tại và đánh mất tương lai.
Tôi gặp nơi mỗi chỗ ngồi, mỗi góc khuất, mỗi hồi quang ở Tùng một cảm giác mà nhà văn Pháp Patrick Modiano đã gọi đúng tên khi mô tả về những con người phiêu dạt trong thời gian, qua không gian những quán cà phê Paris hậu chiến – một cảm giác “từ thăm thẳm lãng quên”.
Tác giả: Nguyễn Vĩnh Nguyên 
Từ trong cuốn du khảo “Đà Lạt – một thời hương xa”

RỐI BỜI.




Thứ Năm, 16 tháng 5, 2019

THÙNG CHỨA RÁC VÀ CHỒNG TÔI....


Tiếng ngáy làm tôi yên tâm

 Tháng này tôi phải tiễn chân 4 người bạn về bên kia thế giới. Những người bạn thân thiết đã một thời quen biết già có, trẻ có cứ lần lượt bỏ tôi đi khiến dù muốn hay dù không tôi cũng phải suy nghĩ về thân phận của mình.

Nghĩ đến lúc mình phải từ giã cõi đời cũng thấy nao nao và có cái gì xao xuyến. Nhưng nếu là số phận thì biết làm sao, chi bằng nhìn vào cuộc đời để rút ra một vài điều bổ ích cho cuộc sống. Sống tốt để sau khi nằm xuống khỏi hối hận.

Suy nghĩ vẩn vơ, tôi chợt nhớ ra câu truyện được kể trong một Khóa Nazareth. Thuyết trình viên kể rằng, trước đây bà thường dành 1 hoặc 2 tháng xa nhà để trông nom cho các con bà sau khi sinh nở. Nhưng gần đây bà chỉ dành 1 hoặc 2 tuần cho các con trong những trường hợp như vậy. Các con bà có hỏi tại sao, thì bà trả lời: “Má nghĩ đã đến lúc má cần dành nhiều thời gian cho ba các con. Ba các con lúc này mới thật sự cần má. Miếng cơm manh áo của ba, giấc ngủ và sức khỏe của ba luôn luôn là điều mà má phải quan tâm. Ba má nay đã cao tuổi, thời gian còn ở với nhau được bao lâu, nên má thấy cần ba, và ba cũng cần má.”

Đúng vậy, câu trả lời của bà rất ý nghĩa và đánh động tôi rất nhiều. Và nghĩ đến điều này tôi càng thấy thương cho các cặp vợ chồng trẻ mà không hiểu sao họ lại coi nhau như cỏ rác, như kẻ thù, và như những tạo vật đáng ghét. Cãi vã, chửi rủa, và làm cho nhau đau lòng là những chuyện thường ngày xảy ra mà họ không hề để ý quan tâm tới. Nhưng sẽ có một ngày mà nếu không nghĩ lại, họ sẽ hối hận rất nhiều.

Cũng một câu truyện trong nhiều câu truyện mà tôi vẫn nghe về đời sống hôn nhân, về những khó chịu, về những hiểu lầm, về những xích mích giữa vợ chồng. Nhưng trong những cái làm cho nhau khó chịu ấy, lần này tôi được nghe một nhận xét tích cực, và xây dựng. Truyện do một người vợ trẻ kể lại:

“Tôi thường ngày rất khó chịu và hay cằn nhằn chồng tôi vì anh có cái tật ngủ ngáy to. Bình thường thì cũng không đến nỗi nào, nhưng những đêm mất ngủ thì tiếng ngáy của anh là một tra tấn dã man đối với người mất ngủ như tôi. Những đêm như vậy tôi khó chịu và ghét anh vô cùng. Nhưng gần đây thì tôi không còn thù ghét tiếng ngáy đó nữa, mà ngược lại, bất cứ lúc nào thức giấc ban đêm mà tôi không nghe tiếng gáy đó là tim tôi đập thình thịch, và ngớ ngẩn suy nghĩ không biết chuyện gì xẩy ra cho anh.

Thời gian gần đây tôi thường bị lo lắng, hốt hoảng, và sợ hãi. Chuyện lớn, chuyện nhỏ, chuyện quan trọng, chuyện tầm thường, chuyện trong nhà, chuyện ngoài ngõ hễ cái gì đập vào mắt tôi, lọt vào lỗ tai tôi đều làm cho tôi suy nghĩ và lo lắng. Tôi trở thành mất ăn, mất ngủ, và mất hết nghị lực để sống.
Nhưng người mà phải gánh chịu mọi dằn vặt, kêu ca, cằn nhằn, khó chịu từ tôi đó chính là chồng tôi .
Tôi đã được khuyến khích đi gặp những bác sỹ chuyên môn và uống những thứ thuốc đắt tiền, nhưng cũng chẳng giúp gì ngoại trừ tôi phải trút đổ trên đầu chồng tôi hết mọi thứ lo lắng, bực bội trong tôi, họa may tôi mới được nhẹ nhõm một chút.
Thì ra, chồng tôi chính là cái thùng rác để tôi trút bỏ mọi thứ ngổn ngang trong cuộc sống vào đó.
Cho đến một ngày tôi bừng nhận ra tôi đã gây đau khổ cho chồng tôi quá nhiều. Tôi hối hận , và tôi cảm thấy hết sức lo lắng .
Tôi lo lắng cho sức khỏe của anh cũng như tôi đang lo lắng cho chính mình. Tôi sợ rằng điều mà tôi gây ra cho anh sẽ làm anh sớm bỏ tôi hơn là do căn bệnh quái ác của tôi khiến cho tôi phải bỏ lại anh. Tôi vẫn thường nghe nói, những người chăm sóc cho người bệnh thường lại chết trước người bệnh. Và điều này khiến tôi chợt tỉnh. Nó giúp tôi từ từ bình phục cùng với sự giúp đỡ, thương yêu và lo lắng của người chồng rất mực yêu thương tôi.

Cũng từ đó, mỗi đêm tôi đều ôm sát lấy anh dù là trong giấc ngủ vì sợ rằng anh sẽ vuột mất. Nhất là mỗi đêm tôi phải để ý, nghe ngóng từng hơi thở, tiếng ngáy của anh. Tiếng ngáy của anh lúc này đối với tôi có một ý nghĩa rất tuyệt vời. Nó bảo tôi rằng anh hãy còn khỏe mạnh, đang ngủ say bên tôi, và vẫn còn đang sống với tôi. Tiếng ngáy làm tôi yên tâm. Làm tôi thấy hạnh phúc”.

Có những mối tình già mà người này không thể quên săn sóc cho người kia. Có những mối tình trẻ mà tiếng ngáy đã có lần làm khó chịu nhưng bỗng trở nên âm thanh mang lại hạnh phúc cho nhau.
Cái đó gọi là tình yêu. Là quan tâm và lo lắng cho nhau .
Là vợ chồng, và là một xương một thịt. Còn gì trên đời đáng yêu, đáng quí, và đáng gìn giữ hơn người chồng, người vợ. Nhưng cũng không biết trên đời có bao nhiêu người đã khám phá, tiếp tục khám phá và trân quí món quà thiêng liêng nhưng cũng rất vật chất này? Hay phải chăng phải đợi đến khi không còn thấy mặt nhau, nghe tiếng nhau, nghe tiếng ngáy của nhau mới hốt hoảng, mới đau khổ đi tìm.  

 Có tốt với tôi thì tốt với tôi bây giờ  
Đừng đợi ngày mai đến lúc tôi xa người 
Đừng đợi ngày mai đến khi tôi phải ra đi 
Ôi muộn làm sao nói lời tạ ơn 

Nếu có bao dung thì hãy bao dung bây giờ  
Đừng đợi ngày mai đến lúc tôi xa đời 
Đừng đợi ngày mai biết đâu tôi nằm im hơi 
Tôi chẳng làm sao tạ lỗi cùng người

Có nhớ thương tôi thì đến với tôi bây giờ  
Đừng đợi ngày mai lúc mắt tôi khép lại 
Đừng đợi ngày mai có khi tôi đành xuôi tay 
Trôi dạt về đâu, chốn nào tựa nương 

Nếu có yêu tôi thì hãy yêu tôi bây giờ  
Đừng đợi ngày mai đến lúc tôi qua đời 
Đừng đợi ngày mai đến khi tôi thành mây khói 
Cát bụi làm sao mà biết lụy người.”

Tiếng hát của ai đó qua nhạc phẩm “ Nếu Có Yêu Tôi ” của Trần Duy Đức vang vọng trong đêm khuya như âm vang tiếng ngáy của người chồng trẻ. Tiếng ngáy mà theo vợ anh là “Tiếng ngáy làm tôi yên tâm. Làm tôi thấy hạnh phúc”.
Cũng như thức tỉnh cái nhìn của những cặp vợ chồng sau những năm dài chung sống:
“Ba má nay đã cao tuổi, thời gian còn ở với nhau được bao lâu,  nên má thấy cần ba, và ba cũng cần má .”

Đúng vậy, hạnh phúc luôn ở bên ta, quanh quẩn bên ta trong người chồng, người vợ mà hàng ngày gặp gỡ, chỉ cần ta :

thay đổi thái độ,
thay đổi cái nhìn,
và thay đổi lại phán đoán về người đó.  

Trần Mỹ Duyệt

Câu chuyện rất ngắn nhưng lại có sức lan toả đến hàng triệu người

Trên đời này, chỉ có cha mẹ mới là người toàn tâm toàn ý yêu thương chúng ta mà không hề đòi hỏi gì. Vậy nên, phận làm con hãy ý thức sớm điều đó, đừng để đến lúc nhận ra thì mọi chuyện đã quá muộn màng


Đừng để sự chờ đợi trở thành nỗi ân hận, bởi cha mẹ sẽ không thể ở mãi bên ta. (Ảnh: Girly)
Tôi lên giường ngủ lúc 11 giờ khuya, bên ngoài trời đang có tuyết rơi. Tôi co ro rúc vào trong chăn, cầm chiếc đồng hồ báo thức lên xem thì phát hiện nó đã ngừng hoạt động từ lúc nào, tôi đã quên không mua pin cho nó.
Bên ngoài trời lạnh như thế, tôi quả thực không muốn phải ngồi dậy, liền gọi điện thoại cho mẹ: “Mẹ ơi, đồng hồ báo thức của con hết pin rồi, ngày mai con có cuộc họp công ty, khoảng 6 giờ mẹ gọi điện đánh thức con dậy nhé!”.
Mẹ ở đầu dây bên kia giọng như đang ngái ngủ, nói: “Được rồi, mẹ biết rồi!”.
Sáng hôm sau, điện thoại báo thức vang lên trong lúc tôi còn đang mộng đẹp. Ở đầu dây bên kia, mẹ nói: “Con gái mau dậy đi, hôm nay con còn có cuộc họp đấy”.
Tôi mở mắt nhìn đồng hồ, mới có 5h40, liền cảm thấy khó chịu mà cằn nhằn mẹ: “Chẳng phải con nói 6 giờ mới gọi con dậy sao? Con còn muốn ngủ thêm một lát nữa, lại bị mẹ làm phiền rồi”.
Mẹ ở đầu dây bên kia lặng im không nói gì, tôi cũng cúp điện thoại…
Tôi ngồi dậy rửa mặt, chải đầu rồi ra khỏi nhà. Thời tiết thật lạnh, khắp nơi toàn là tuyết, trời đất chỉ một màu.
Tại ga xe bus tôi không ngừng dậm chân cho đỡ lạnh, trời vẫn còn tối đen như mực, đứng bên cạnh tôi là hai ông bà lão tóc bạc trắng.
Tôi nghe ông lão nói với bà: “Bà xem xem, cả đêm ngủ không yên giấc, mới sáng sớm đã thúc tôi dậy rồi, nên giờ mới phải chờ lâu như thế”.
Dù tất cả có quay lưng với ta, cha mẹ vẫn luôn mở rộng vòng tay, chào đón trở về bằng tất cả yêu thương. (Ảnh: Vietnamnet)
Năm phút sau, cuối cùng xe bus cũng đã tới. Tôi vội bước lên xe, tài xế là một người thanh niên còn rất trẻ, anh ta chờ tôi lên xe rồi vội vã lái xe đi.
Tôi nói: “Khoan đã! Anh tài xế, phía dưới còn có hai ông bà lão nữa, thời tiết lạnh như thế mà họ đã đợi từ rất lâu rồi, sao anh không chờ họ lên xe mà đã đi rồi?”.
Anh ta ngoảnh đầu lại, cười nói: “Không sao đâu, đó là cha mẹ của tôi đó. Hôm nay là ngày đầu tiên tôi lái xe bus, nên họ đến xem tôi đấy”.
Tôi đột nhiên rơi lệ, nhìn lại dòng tin nhắn của cha tôi: “Con gái, mẹ của con cả đêm ngủ không được, mới sáng sớm đã tỉnh dậy, bà ấy lo con sẽ muộn giờ”…
-***-
Người Do Thái có một câu ngạn ngữ: “Lúc cha mẹ cho con thứ gì, con đều nở nụ cười; lúc con cái cho cha mẹ thứ gì, cha mẹ khóc”. Cả đời này, người có thể làm cho chúng ta mọi thứ mà không cầu báo đáp chỉ có cha mẹ, vậy nên, dù thế nào cũng đừng phàn nàn họ, hãy thông cảm cho họ, quan tâm tới họ.
Hãy trân trọng từng phút giây bên cha mẹ, bởi không ai biết được khi nào họ sẽ rời xa ta mãi mãi. Khi cha mẹ còn hãy luôn nở nụ cười, hãy luôn quan tâm chăm sóc tới họ, đừng để cha mẹ mỏi mắt ngóng trông mà không nhìn thấy hình bóng của bạn.
Khi bạn chập chững bước đi, chỉ có cha mẹ là người nắm lấy đôi bàn tay nhỏ bé, dìu dắt bạn đi những bước đầu đời. (Ảnh: Twitter)
Khi bạn cất tiếng khóc chào đời, chỉ có cha mẹ là người hạnh phúc nâng niu bạn trong vòng tay, cũng chỉ có cha mẹ là người ngày đêm bỉm sữa, chăm sóc bạn từng miếng ăn giấc ngủ.
Khi bạn chập chững bước đi, chỉ có cha mẹ là người nắm lấy đôi bàn tay nhỏ bé, dìu dắt bạn đi những bước đầu đời.
Khi bạn đau ốm, chỉ có cha mẹ là người mất ăn mất ngủ, ngày đêm túc trực bên giường bệnh. Vì bạn, dẫu phải bán đi khối tài sản cuối cùng trong tay, họ vẫn sẵn sàng.
Khi bạn gặp khó khăn trắc trở, hay khi cả thế giới đều quay lưng với bạn, thì cha mẹ vẫn luôn ở bên che chở bạn, vỗ về bạn. Thời gian có thể làm lòng người thay đổi, nhưng vĩnh viễn không thể thay đổi tình yêu cha mẹ dành cho bạn.
Nhưng nếu một ngày cha mẹ buộc phải ra đi, họ sẽ không thể báo trước cho bạn một lời nào, không thể tiếp tục gọi tên bạn, cũng không thể cùng bạn ăn cơm và quan tâm tới bạn được nữa…
Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng, con muốn báo hiếu mà cha mẹ đâu còn? Giá như ta đã có thể bớt xem một bộ phim, bớt chơi một ván cờ, bớt đi dạo cùng bạn bè, để dành thời gian ở bên cha mẹ, ta sẽ cảm thấy bản thân đỡ ân hận phần nào!
Bởi vậy, nhân lúc cha mẹ còn đang khỏe mạnh, hãy an ủi tinh thần cho họ, hãy dành nhiều thời gian hơn để bên cạnh họ, cố gắng đáp ứng hết nguyện vọng của họ, đừng khiến cho bản thân sau này phải hối hận.
Hãy yêu thương cha mẹ như yêu thương chính bản thân mình, bởi vì họ cũng cần được yêu thương… Và nếu có một ngày thực sự họ rời đi, chúng ta sẽ không phải ngậm ngùi về những tháng ngày đã qua…
Phụ nữ và gia đình

CHÀO MỪNG QUÝ THẦY CÔ VÀ ĐỒNG MÔN TRƯỜNG HOÀNG DIỆU SÓC TRĂNG THAM QUAN, ỦNG HỘ HOANGDIEUTRUONGXUASAIGON.BLOGSPOT.COM. CHÚC THẦY CÔ VÀ ANH CHỊ EM NHIỀU SỨC KHỎE, THÀNH CÔNG TRONG CÔNG VIỆC.