.

.

a

BÀI VỞ CHIA SẺ , CỘNG TÁC VUI LÒNG GỞI VỀ KHANHHOANGDIEU54@GMAIL.COM
NGÀY HỘI KỶ NIỆM 55 NĂM VÀO TRƯỜNG HOÀNG DIỆU CỦA NK 65 - 72 SẼ TỔ CHỨC VÀO NGÀY 9 THÁNG 2 NĂM 2020 TẠI VƯỜN ME MỸ XUYÊN, TP.SÓC TRĂNG.

Thứ Ba, 16 tháng 7, 2019

HAI BÀ NỘI…!





Từ khi hiểu chuyện, tôi biết mình có hai bà nội. Bà nội ở Sóc Trăng là người sinh ra bác Hai và ba tôi. Bà nội ở Phú Lộc thì sinh từ chú Tư A. cho tới chú Kh. (thứ tám, là út). Thỉnh thoảng ông nội lên Sóc Trăng. Có khi bà nội Phú Lộc cũng theo cùng ông, đi Sóc Trăng khám bệnh…
Nhà tôi nấu cơm tháng cho quý thầy cô Hoàng Diệu ở trọ tại nhà (hoặc trọ nơi khác, chỉ đến dùng cơm rồi về). Việc nấu nướng, chợ búa do má tôi đảm nhiệm. Ngày ngày, nội tôi “ngồi sòng” tứ sắc tại nhà. Ông nội tôi không thích điều này. Mỗi lần ông lên Sóc Trăng, gặp tại trận thì sòng bài phải dẹp ngay tức khắc. Nhiều lần như vậy, mấy bà rủ nhau đi “múa quạt” nơi khác. Trong đó có nhà của bà nội bạn H., học cùng khóa trường Hoàng Diệu với tôi. Những lúc ấy ông nội buộc má tôi phải đi tìm bà nội về liền (nói theo bây giờ là ngay và luôn), không “oỏng đơ” gì ráo…
Dù có hai vợ, nhưng trong gia đình ông nội tôi là số Một. Nhất là những khi ông nổi nóng hoặc tức giận lên, thì cả nhà ai cũng im thin thít. Khỏi nói, mỗi lần vậy, tôi đều leo lên giường, trùm mền kín mít. Cũng có khi bà tôi cãi lại ông, hoặc nói mát mẻ “Tui đã ly thân với ông từ khi ông rước bà nhỏ về mà. Lúc ấy, tui mới hơn ba mươi chớ mấy. Ông có vợ con riêng rồi thì phải để tui tìm niềm vui khác chớ. Tui đánh bài đâu phải bằng tiền của ông…” Có khi, nội nói “Tại con Vú thằng A. nó hiền, tui không nỡ nói động tới… Ông làm quá, thì ông bỏ tui luôn đi. Sao tui nói hoài mà ông hổng chịu? Ông nói số ông hai vợ, nếu tui bỏ ông thì cũng như không… Mà, tui nói, ông lên đây làm gì? Hai người giùm ơn đi…” Chú Tư A. do nội Phú Lộc sinh ra, nhưng nghe nói hồi nhỏ chú khôi ngô lắm, nên nội Sóc Trăng làm khai sinh nhận chú là con, và chú ở luôn tại Sóc Trăng, đi học…
Có lần, nội Phú Lộc lên khám bệnh, đang nằm trong buồng của một chị dưới quê lên trọ học, nghe nội Sóc Trăng tôi nói vậy thì lệ cứ lặng lẽ rơi dài, ánh mắt nhìn tôi vô cùng buồn bã mà miệng thì cố nở nụ cười!
Tôi thương quý cả hai bà nội. Mỗi dịp nghỉ hè về quê chơi, tôi tha hồ được nội Phú Lộc làm cho ăn món mà tôi thích nhất - khoai môn “ngào pà”. Còn nữa, ăn cơm với dưa muối chấm nước tương giằm tí ớt hiểm. Nội Phú Lộc muối dưa leo đèo, hoặc làm dưa cải “tùa xại” rất ngon. Đó là nguồn thu nhập của bà. Ngoài ra, bà còn nuôi giấm bán. Và nhận “luôn”, đơm nút áo dài, làm khuy các loại áo quần khác nữa… Tôi không thể nào quên hình ảnh bà ngồi khòm khòm, cắm cúi, miệt mài, tay thoăn thoắt vắt khuy, đơm nút… với chiếc kính lão trễ trên sống mũi. Phải nói, tôi chưa thấy ai làm khuy và đơm móc quần tây chắc và khéo, đẹp cho bằng nội Phú Lộc của tôi. Chiếc ghế bố (tấm vải bố có nẹp hai đầu để luồn hai khúc gỗ tròn đặc ruột, ngáng vào hai cái rãnh ở hai đầu ghế) là chỗ ngồi cố định của bà. Lúc hàng nhiều, bà còn làm vào buổi tối, bên cái đèn trứng vịt - lúc nhà không có điện! Khi tôi mười bốn mười lăm tuổi, có dịp ngồi phụ xếp những chiếc áo quần lúc bà đơm nút xong, bà hay nói với tôi “Nội mong mình sống cho được tới khi con và cô Bảy con có chồng…” Tôi cười cười “Nội phải chờ cho có cháu cố nữa chứ!” “Chắc hổng kịp đâu con!” Cô Bảy nhỏ hơn tôi hai tuổi, áp út. Còn cô Năm thì lớn hơn cô Bảy bốn tuổi. Chắc bà nội đinh ninh mình sẽ có đủ thời gian lo, tiễn cho cô con gái lớn theo chồng... Nên ao ước được nhìn ngày con gái nhỏ vu quy. Và, cả tôi nữa… Lúc ấy tôi nghe vậy chớ không để ý gì. Vậy đó rồi bà… “đi”, khi cô Bảy tôi mới lên tuổi mười lăm. Thì ra bà đã mắc bệnh lao phổi nặng!



Từ nhỏ, tôi ngủ chung với bà nội Sóc Trăng, cho đến ngày đi lấy chồng. Thường, dưới gối nằm hoặc dưới góc nệm bà hay để tiền. Nhưng tuyệt nhiên tôi không hề tò mò, đếm hoặc “nhón” lấy một đồng nào. (Thói quen này “đeo” tôi mãi đến nay, tôi không biết trong bóp của chồng có bao nhiêu tiền, hay hình ảnh, hoặc bất cứ vật gì trong đó…) Trong phòng ngủ có chiếc tủ quần áo bằng gỗ cao to, chứa đồ của hai bà cháu, và cái tủ sắt “bốn vú” khóa chữ. “Mật mã” là bốn chữ cái đầu tên tôi. Xâu chìa khóa tủ sắt cũng nằm dưới nệm. Khi cần lấy gì trong tủ sắt, nội kêu tôi mở khóa. Thời bao cấp khó khăn, nội tôi bán chiếc tủ sắt cho một cơ quan có nhu cầu. Chiếc tủ quần áo, và cái gạc-măng-giê - ngày tôi dọn vào ở nhà tập thể bên Khu 2 Trường Đại học Cần Thơ, nội nhứt định biểu tôi nhận, gọi là “chia của”. Trải bốn lần dọn nhà, cái tủ quần áo ấy hiện giờ tôi đã chuyển giao cho vợ chồng đứa con trai. Còn cái gạc-măng-giê, lúc nội còn sống, tôi đã xin phép bà cho tôi tặng một chị làm chung cơ quan, và bà tôi đồng ý!

Sau 30-4-1975, nội tôi nghỉ đánh bài và tự nấu ăn để trường chay. Lúc đó không có nhiều người ăn chay, và thực phẩm chay không phong phú như bây giờ. Bà tự nghĩ ra và nấu những món như: bắp chuối luộc bóp giấm, để rau răm, đậu phọng đâm nhuyễn - ngon không kém gỏi gà. Canh chua chuối xiêm chín nấu với nửa miếng tàu hũ, phần còn lại kho khô rắc tiêu… ơi, ngon thiệt là ngon. Nội Sóc Trăng trước thường xuyên “múa quạt”, song tôi nhớ rõ, mỗi dịp xuân về, chính tay bà làm từ A tới Z các món mứt: cà, mãng cầu, dừa… Một hai năm đầu sau đổi mới, bà còn làm mứt bưởi, mứt cà… cho con gái bảy tám tuổi của tôi bưng rổ đi bán dài theo xóm. Có một loại mứt nội tôi chuyên làm đãi khách, đó là mứt mận. Mứt mận không làm dẻo như mứt chùm ruột hay mứt cà, mà có nước để dùng chung với nước đá. Những ai từng ăn món này của nội, đều khen “Mứt mận còn ngon hơn trái vải đóng hộp. Bởi nó có vị chua chua chứ không ngọt “toàn phần” như trái vải…” Má tôi và tôi đều được bà dạy “bí kíp” làm các loại mứt, bánh, như bánh gan, bánh bò nướng sao cho có nhiều rễ tre; bánh thửng sao cho nở tai đều, to; bánh khoai mì, bánh đậu xanh, sao cho mịn, mềm, không quá ngọt, quá béo mà ăn đến quên thôi; vân vân… Nhưng nói thiệt, hiện giờ, tôi cũng khá “hư hỏng” rồi, bí kíp đã đánh rơi mà không chú tâm tìm lại - vì rất sợ các loại thức ăn ngọt!
Bà không chỉ dạy tôi một chữ “Công”. Các chữ còn lại, bà dạy tôi tất tần tật. Ví dụ, bà nói “Con gái không cần tô son đánh phấn, chỉ cần ăn mặc sạch sẽ, gọn gàng, kín đáo, không được mặc áo sát nách ra đường. Con gái chỉ nên nói thích, không nên nói sướng, khoái, đã…” Hồi chưa có chồng, biết tôi cũng có… hơn hai người để ý, bà thường nói “Là con gái, không để mình mắc nợ ai. Nhứt là, nợ tình khó trả…” Nhớ mấy tháng đầu về làm dâu, tôi ốm hẳn. Bà cô (em ông nội) tôi nói với nội, biểu má tôi qua xin má chồng cho tôi được về nhà ít lâu để tẩm bổ, sau đó sẽ quay lại nhà chồng. Nội tôi lắc đầu “Con gái, xuất giá tòng phu… Hơn nữa, mình cũng phải nghĩ cho mẹ chồng của nó…” Lúc chồng tôi đi học nước ngoài, những khi thấy tôi có vẻ buồn phiền, lo lắng, nội hay nói về “tình tấm mẵn”, về “gừng càng già càng cay”, hoặc “vợ chồng già càng thương nhau hơn”. Ba tôi vốn là tài xế, ngoài má tôi là vợ, ba còn “đèo bòng” có con rơi. Nội hay nhắc má tôi “Ớt nào là ớt chẳng cay. Nhưng… chồng giận thì vợ bớt lời…”. Nội dạy dâu mà cũng là dạy cháu. Tôi thấm lời bà, như giọt nước nhỏ đều vào tảng đá, tạo thành vết hõm sâu và mặt nước cứ từ từ dâng cao, lóng lánh ánh mặt trời…
Không thể kể hết những điều nội đã dạy tôi từ thời con gái, đến (và sau) khi có chồng. Bà nội tôi học ít, nhưng thuộc nhiều thơ ca, và thường vận dụng vào việc dạy dỗ con cháu. Nội hay đọc thơ Lục Vân Tiên, Truyện Kiều, có khi còn “Trống trường thành lung lay bóng nguyệt/ Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây…”, hoặc ca bài Dạ cổ hoài lang “Từ là từ phu tướng/ Bảo kiếm sắc phán lên đàng/ Vào ra luống trông tin chàng/ Năm canh mơ màng/ Ôi, gan vàng quặn đau í a…”
Đặc biệt nội tôi là người bản lĩnh. Có người kể, hồi ông nội tôi bị bắt về tội “tiếp tế Việt Minh”, bà tôi đã dám vào tận sân tòa đánh trống kêu oan, và “biện hộ” cho chồng. Chuyện là, khi ông nội tôi làm chủ hãng xe đò, đúng là có đóng góp cho cách mạng đánh Tây. Nhưng, cũng có khi xe đò của nội bị “đàng mình” đốt phá… Vì họ không cùng đường dây, nên người thì ghi nhận “công”, còn người khác thì “trị" tội... Nhưng, với lý lẽ và bằng chứng, nhân chứng rõ ràng do bà nội tôi đưa ra, ông nội tôi “thoát” tội!
Thú vị nhất với tôi là việc, có lần má nhận được và xé thư (qua bưu điện) của chàng trai nào đó gởi cho tôi, nội biết chuyện, rầy má “Là cha mẹ cũng không có quyền làm vậy. Thơ gởi ai người đó coi” Có lẽ nhờ vậy mà lần em trai tôi phát hiện trong bìa bao sách của một bạn nam (đồng môn Hoàng Diệu) gởi cho tôi như có gì cồm cộm, nó giật phắt và vừa chạy vừa la lên “Vú ơi, có người gởi thư cho chị Hai” Lúc ấy, má tôi nhìn sang nội, trả lời “Ai gởi cũng được, gởi chị Hai thì chị Hai đọc, làm gì mầy giựt rồi la làng lên vậy? Trả cho chị Hai đi... "

***
Gần ba chục năm rồi, sau ngày nội Sóc Trăng của tôi lên đường cỡi hạc, tôi vẫn không hiểu nổi: Sao mình có thể chạy xe tốc hành dưới trời nắng như đổ lửa, mà chỉ chín mươi phút thôi là đã về tới Sóc Trăng (vượt thời gian nửa tiếng so với bình thường). Hôm ấy, chồng tôi chở hai đứa con. Còn tôi chạy một mình, toàn bang ra giữa lộ. Nắng chói lóa. Mà trước mắt tôi như có lớp sương mù dày đặc buổi ban mai!

(15-7-2019)
NGUYỄN THỊ THANH NGỌC

Chàng trai Việt trở thành triệu phú nhờ món gỏi cuốn (Australia)

Từ món ăn yêu thích, Nguyen Bao Hoang đã sáng lập chuỗi cửa hàng đồ ăn Việt với doanh thu trên 40 triệu USD mỗi năm.
 

Để phát triển chuỗi nhà hàng ẩm thực Việt tại Australia, Bao Hoang phải làm việc 120 giờ mỗi tuần. Ảnh: Good Food. 
Nguyen Bao Hoang là một trong ba nhà sáng lập, kiêm CEO của chuỗi nhà hàng đồ ăn nhanh Rolld ở Australia. Hiện Rolld có mặt ở khắp các trung tâm thương mại và trở thành thương hiệu ẩm thực quen thuộc tại Australia.
Những năm đầu thập niên 1980, bố mẹ Bao Hoang rời Việt Nam sang định cư tại Australia. Sinh ra và lớn lên tại xứ sở chuột túi nhưng Bao Hoang luôn có mối liên kết sâu sắc với văn hóa Việt Nam, đặc biệt là ẩm thực.
Sau khi tốt nghiệp ngành Vật lý Trị liệu tại ĐH Melbourne, Bao Hoang làm nhượng quyền thương hiệu trong lĩnh vực sức khỏe khoảng 10 năm. Yêu thích ẩm thực Việt, Bao Hoang ấp ủ đam mê và mong muốn giới thiệu ẩm thực Việt đến bạn bè quốc tế.Từ nhỏ Bao Hoang luôn được thưởng thức các món ăn thuần Việt do mẹ và các dì chế biến. Những món ăn đơn giản như bánh mì, gỏi cuốn, phở luôn xuất hiện trong thực đơn hàng ngày của Bao Hoang và anh ăn không bao giờ biết ngán.


Năm 30 tuổi, Bao Hoang bỏ công việc ổn định, mức thu nhập tốt để khởi nghiệp nhà hàng ẩm thực Việt. “Tôi đã nói chuyện với anh họ về ý tưởng kinh doanh chuỗi thức ăn đường phố mang hương vị Việt và anh ấy rất thích. Vậy là chúng tôi lên kế hoạch mở nhà hàng Rolld đầu tiên”, Bao Hoang chia sẻ.
Năm 2012, Bao Hoang cùng anh họ Tin Ly và người bạn học cấp một, Ray Esquieres, góp số vốn 180.000 AUD mua lại quán cà phê Italy ở thành phố Melbourne để khởi nghiệp. Tháng 5/2012, nhà hàng chuyên kinh doanh thức ăn nhanh hương vị ẩm thực Việt ra đời có tên Rolld.


Ba đồng sáng lập của Rolld (từ trái sang): Nguyen Bao Hoang, Tin Ly và Ray Esquieres. Ảnh: FB Rolld.

Chỉ 6 tháng sau, Bao Hoang đã mở thêm được nhà hàng thứ hai. Không có kinh nghiệm trong lĩnh vực ẩm thực nhưng bằng đam mê và hương vị Việt độc đáo, nhà hàng của Bao Hoang đã chinh phục được những thực khách khó tính nhất.
 Ban đầu, Bao Hoang mục tiêu hướng tới khách hàng là nhân viên văn phòng của các công ty xung quanh có nhu cầu ăn trưa nhanh gọn và tốt cho sức khoẻ. Xây dựng phong cách giản dị, thiết kế đơn giản, các món ăn có lợi cho sức khỏe, Rolld dần thu hút nhiều người tìm đến và trở thành khách hàng thân thiết. Thương hiệu ẩm thực Rolld dần trở nên quen thuộc với người Australia.
Toạ lạc tại khu văn phòng nhộn nhịp, Rolld là nhà hàng đặc trưng với các món ăn quen thuộc của người Việt như: gỏi cuốn, bánh mì, phở, cơm tấm… Ngay ngày đầu khai trương, Rolld phục vụ hơn 150 thực khách và mới 13h30, nhà hàng đã hết sạch đồ ăn. Chỉ vài tuần sau, số lượng khách hàng đến với Rolld tăng lên 1.000 khách mỗi ngày.
Theo Bao Hoang, công thức tạo nên thành công của Rolld là mối liên kết chặt chẽ giữa các thành viên trong gia đình. Người tạo ra công thức món ăn là mẹ và dì, bố quản lý việc giao hàng, vợ anh làm giám đốc thương hiệu, trong khi anh trai và chị gái giúp quản lý cửa hàng.

 

Nhà hàng Rolld hiện bán nhiều loại gỏi cuốn khác nhau được chế biến từ rau củ, thịt, hải sản. Ảnh: FB Rolld.
Hiện nay, chuỗi nhà hàng Rolld có hơn 700 nhân viên, mỗi năm bán ra khoảng 6 triệu chiếc nem cuốn, chiếm 50% doanh thu của chuỗi cửa hàng. Ngoài ra, các món ăn Việt khác như bánh mì, phở, bún bò Huế cũng được thực khách yêu thích.Rolld nhanh chóng trở nên nổi tiếng và Bao Hoang dần mở rộng chuỗi 66 nhà hàng tại các thành phố lớn của Australia. Những năm qua Rolld liên tiếp đạt mức tăng trưởng khoảng 800%doanh thu mỗi năm đạt 40 triệu AUD (gần 30 triệu USD).
Mở rộng chuỗi cửa hàng nhanh chóng với số vốn nhỏ là thách thức lớn đối với Bao Hoang. Bao Hoang lựa chọn nhượng quyền thương hiệu Rolld để mở rộng và tìm kiếm thêm nhà đầu tư. Đến nay, 70% chi nhánh của Rolld do Bao Hoang và hai người đồng sáng lập sở hữu, số còn lại là chi nhánh nhượng quyền.
“Để gây dựng một thương hiệu ẩm thực tại Australia là điều không đơn giản. Vì vậy, khi khởi nghiệp chúng tôi phải phát triển thương hiệu thật mạnh để đảm đảm đứa con tinh thần không bị chết yểu”, ông chủ người Việt chia sẻ.
Mục tiêu của Bao Hoang đến cuối năm 2018 là Rolld có 100 nhà hàng chi nhánh. Đồng thời, anh cũng lên kế hoạch mở rộng ra nước ngoài, cụ thể là Philippines và Mỹ.

Theo Ngôi Sao

Hồi ức về xe đò xưa – Vì sao người miền Nam gọi là “xe đò”, “lơ xe”?



 Theo nhà văn Sơn Nam, đồng bằng Nam bộ sông nước chằng chịt, ngày xưa phương tiện đi lại chủ yếu bằng đò ghe, cho đến thập niên ba mươi, người Pháp thành lập vài hãng xe chở khách đi miền Tây. Thời ấy đường bộ chưa phát triển, xe đến bến khách phải chuyển tiếp bằng đò ghe nên người ta gọi là xe đò cho tiện.
Người miền Bắc gọi xe đò là xe khách hoặc xe ca, còn người Trung lại gọi xe đò giống như người Nam. Một số người giải thích vì hầu hết các chủ nhà xe đi miền Trung là người Sài Gòn nên “xe đò” trở thành phương ngữ chung cho tiện. Nhà văn Sơn Nam nhắc tới kỷ niệm thời học sinh trung học từng đi xe đò từ Rạch Giá về Cần Thơ mà ông có nhắc lại trong tập “Hồi ký Sơn Nam”:
“…Tiền xe từ Rạch Giá đến Cần Thơ là một đồng hai (120km) nhưng nhỏ tuổi như tôi chỉ tốn có 6 cắc. Tôi lên xe ngồi để người phụ xế sắp đặt chỗ ngồi cho gọn, khép nép, chung quanh xe là nhiều người rao hàng để hành khách ăn buổi sáng vì buổi trưa mới đến bến Cần Thơ. Tôi còn nhỏ, ba tôi cho riêng tôi 2 cắc, rất tủi thân vì trong khi ấy gia đình khá giả dám trả 1 đồng hai (hai chỗ dành cho trẻ con rộng rãi hơn) lại dành cho con một cái bánh bao to để ăn dọc đường. Xe khách bóp kèn inh ỏi, chạy vòng quanh để tìm kiếm khách…”
Thời kỳ đầu xe đò do người Pháp làm chủ toàn là loại xe nhỏ chở khách chừng hơn hai mươi người. Nhưng chỉ một thập niên sau, người Việt giàu có tham gia mở công ty lập hãng, nhập cảng máy, khung gầm từ châu Âu châu Mỹ, đóng thùng thành xe đò loại lớn chở hơn năm chục hành khách, cạnh tranh ác liệt trong giai đoạn đường bộ được mở rộng và phát triển ở các tỉnh miền Tây và Ðông Nam Bộ.
Giao thông kết nối khắp nơi, nhu cầu đi lại của người dân càng nhiều, tạo thành thời vàng son của xe đò. Chiến tranh Ðông Dương nổ ra, Nhật vào chiếm miền Nam, xăng dầu khan hiếm, bị giám sát chặt chẽ, ngành xe đò suy giảm, một số hãng xe hoạt động cầm chừng và phải thay đổi nhiên liệu cho xe hoạt động.
Ông Sơn Nam kể: “Xe ô tô chở khách phải dùng “ga”, hiểu là than củi tràm, bỏ vào cái thùng tròn đặt bên hông xe phía sau. Trước khi cho xe nổ máy thì quạt cho than tràm cháy, hơi ga ấy bị đốt, gây sức ép cho máy xe chạy, gọi “Autogène”, theo mô hình của Kỹ sư Thịnh Hưng Ngẫu chế tạo ở Sài Gòn”.
Hình ảnh chiếc xe đò nhỏ chạy bằng than đốt trong cái thùng phía sau xe được lặp lại từ năm 1975 đến 1985 – thời kỳ khan hiếm nhiên liệu, chắc người Sài Gòn tuổi trung niên trở lên đều biết rõ. Mỗi lần chui vào cửa xe phía sau là đều phải cẩn thận với cái thùng than cháy nóng được treo dính ở đuôi xe. Thường thì người ta chỉ cải tiến xe đò lỡ – tức là loại xe Renault cũ xì từ giữa thập niên 50.
Tuy giới lái xe gọi đó là xe đò hỏa tiễn nhưng nó chạy chậm hơn xe chạy xăng hoặc dầu. Có lúc xe chạy ì à ì ạch khi than cháy không hết, lơ xe phải dùng thanh sắt mở lò đốt cời than. Hoặc thỉnh thoảng gặp đường vồng xóc, than văng ra khỏi cửa thông không khí, rớt xuống đường cháy đỏ rực. Vô phúc cho chiếc xe đạp nào chạy phía sau tránh không kịp, cán phải cháy lốp xe.
Xe đò hỏa tiễn chạy những đường ngắn như Sài Gòn – Long Khánh, Chợ Lớn – Cần Giuộc – Gò Công, Sài Gòn – Long An, còn xe đò dài vẫn chạy bằng xăng dầu, nhưng không còn nhiều như trước.
Trên mui phía đầu xe thường có thùng phuy nước dùng để làm nguội máy, kế tiếp là nơi chở hàng hóa, xe gắn máy, xe đạp cho khách buôn chuyến và khách đi tỉnh xa.
Tôi còn nhớ mãi lần đầu được đi xe lô về quê bên ngoại ở Càn Long, Trà Vinh. Năm đó tôi chín tuổi, đi cùng với người anh bà con. Xe lô có bãi xe ở Bến Bạch Ðằng và Bến Chương Dương. Bãi xe lô hay nhiều bãi bến xe đò khác khắp nơi trong thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn đều nằm hai dãy dọc theo đường phố. Phòng vé là một cái quầy hay cái bàn gắn tấm biển to đề tên từng hãng xe, chạy lộ trình nào. Riêng xe lô không cần bán vé, khách đến bãi xe còn chỗ trống cứ lên, đủ người thì bác tài chạy. Loại xe này gọi đúng tên là “Location”, sơn màu đen, kiểu xe ô tô chở chừng bảy tám người nhưng bác tài cố nhét thêm hành khách.
Xe lô chạy nhanh hơn xe đò vì không bắt khách dọc đường, không lên xuống hàng hóa cồng kềnh, lại có khi qua cầu tạm không cần bắt hành khách xuống cuốc bộ. Ðể gió lùa vào cho hỉ hả đám hành khách ngồi chật cứng như nêm, lại thêm giỏ xách túi bị, va li lỉnh kỉnh, bác tài mở cửa sau bung lên cột chặt lại, người ngồi phía sau ngó ra phố phường. Xe chạy ra khỏi Phú Lâm, nhìn cảnh đồng lúa xanh tươi hai bên đường, lòng cảm thấy phơi phới mặc dầu lâu lâu tôi phải nhấc mông trở cẳng vì bị ngồi bó gối.
Nói là đi xe lô thì hành khách không cần xuống bộ qua cầu tạm, chứ lần đó tôi vẫn phải xuống cuốc bộ như bao chuyến xe đò khác. Tôi mới ca cẩm, xe lô cái nỗi gì, có mà “lô ca chân” theo lời hát của một tuồng cải lương trên truyền hình. Sau năm 1968, cuộc chiến ngày càng ác liệt, cầu đường nhiều nơi bị đánh phá, có nơi phải dựng cầu tạm, đầu cầu có đặt trạm kiểm soát của quân cảnh hay cảnh sát.
Ðường về Trà Vinh chỉ hơn 160 cây số mà qua mấy chục cây cầu, lại phải chờ phà Mỹ Thuận. Ði xe lô cho được nhanh mà về đến nơi phải mất năm sáu tiếng đồng hồ, huống hồ chi hành khách đi miệt Hậu Giang, Cà Mau xuống ở bến xe còn phải đón đò về nhà ở vùng U Minh, Miệt Thứ mất cả ngày đường. Chỉ có xe thư tức là xe đò làm nhiệm vụ giao nhận thư từ bưu phẩm chuyển cho bưu điện tỉnh mới được ưu tiên, không phải lụy phà hay bị cảnh sát xét hỏi.
Bây giờ xe đò tiến bộ hơn nhiều, xe có máy lạnh, ghế nằm thoải mái cho khách đường xa, duy chỉ không có phòng vệ sinh trong xe, lại còn tặng thêm nước uống, khăn ướt lau mặt. Xe chạy nhanh nhờ có cầu qua hai con sông Tiền và sông Hậu, tôi ngồi xe Mai Linh chạy một lèo về tới chợ Cà Mau chỉ mất sáu tiếng đồng hồ. Nếu không kể đến loại xe dù bắt khách dọc đường, thì xe đò là phương tiện đi đường xa tương đối rẻ tiền.
Trước năm 1975, Xa cảng miền Tây là bến tập trung các xe đò về các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, bên cạnh đó lại có bến xe Chợ Lớn đi về Cần Giuộc, Gò Công, Lý Nhơn, về sau bến xe này gộp lại với Xa cảng miền Tây mở rộng thành Bến xe miền Tây nằm trên đường Kinh Dương Vương quận Bình Tân.
Còn bến Miền Ðông dành cho xe đi các tỉnh miền Trung và phía Bắc trên đường Petrus Ký trước kia thì gộp lại với hai bến xe nhỏ là Nguyễn Cư Trinh đi lộ trình cao nguyên và Nguyễn Thái Học đi Long Hải – Vũng Tàu – Phan Thiết, rồi sau đó vài năm chuyển về bến xe Văn Thánh, và cuối cùng yên vị tại Bến xe miền Ðông trên đường Ðinh Bộ Lĩnh hiện nay.
Nhưng nghe đâu hai bến xe này sẽ phải dời ra xã Tân Túc huyện Bình Chánh và Suối Tiên Q. 9 để có diện tích rộng hơn, đáp ứng được cho nhu cầu ngày càng tăng. Sẽ thiếu sót nếu không nhắc đến Bến xe An Sương, bến này đúng ra có xe đi Tây Ninh – Bình Phước – Bù Ðăn – Bù Ðốp, vùng Tây Trường Sơn, nhưng cũng có xe đi vài tỉnh thành của cả ba miền, do hai bến xe miền Ðông và miền Tây nhỏ hẹp.
Ai cũng có kỷ niệm lần đầu đi xe đò. Mỗi chuyến xe chuyên chở nỗi niềm hoài niệm. Có người nhớ chuyện tiền vé như nhà văn Sơn Nam. Có người lòng phơi phới nhìn thấy phong cảnh đồng lúa xanh tươi chạy dài bên quốc lộ như tôi. Cũng có người nhớ mùi mồ hôi, mùi xăng dầu giữa nắng gió miền Trung. Nhớ bến bãi ồn ào í ới ngày xưa. Và cũng có người tuổi đời chồng chất, nhớ cảnh xuống xe qua cầu xe lửa Bến Lức, Tân An thuở xa lắc xa lơ.
Tại sao gọi là ”Lơ” xe đò?
Đầu thế kỷ 20, Saigon chỉ mới nhập một vài chiếc xe ô tô sử dụng cho ngành bưu chính để chuyên chở thư từ và bưu phẩm đi các tỉnh lân cận: Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Tân An do người Pháp lãnh thầu. Tới năm 1908 tại Sài Gòn đã có khoảng 30 xe đò kiểu còn thô sơ, để chở khách tuyến Lục tỉnh. Thường một chiếc xe có 1 phụ xế lo soát vé, bốc vác hành lý cho hành khách. Chữ ”Lơ” xe đò là từ tiếng Pháp: Contrôleur, có nghĩa là người soát vé mà ra.
Nguồn: Yên Huỳnh


TÍM QUÊ





LỤC BÌNH HOA TÍM




Thứ Hai, 15 tháng 7, 2019

CHỮ ĐỒNG






NGÀY VUI HỘI NGỘ

Trong hình ảnh có thể có: 16 người, bao gồm Cát Bụi Phong Trần và Bach Tuyet Phan, mọi người đang cười, mọi người đang đứng và trong nhà

Anh bạn học trước tôi 2 khóa của trường trung học Hoàng Diệu cho hay, đầu xuân 2020 khóa anh sẽ tổ chức kỹ niệm 55 năm vào trường.Tính ra cựu học sinh khóa này, ở vào độ tuổi 67. Trải qua thời gian dài, người thì mất, người sống ở khắp nơi, việc tập hợp số cựu học sinh còn lại chắc không được nhiều bởi có nhiều lý do khác nhau.Tuy vậy, các anh chị quyết tổ chức vì thời gian càng trôi đi, số người vắng mặt sẽ còn tăng thêm nữa! Tuổi các cựu học sinh nay đã cao, còn các thầy cũ nếu còn sống người nào cũng tròm trèm 80 tuổi.Tuổi này sức khỏe đã kém, đường sá xa xôi nên muốn được các thầy về dự đông đủ . chuyện không dể dàng..
Trường tôi, một trong số ít trường ở Sóc Trăng có cựu học sinh các khóa tổ chức họp mặt từng năm. Bởi vậy, năm nào vào dịp đầu xuân cũng diễn ra các buổi họp mặt rất vui tươi, đầy ý nghĩa.Việc tổ chức như vậy đã thành truyền thống của các khóa. Nhờ duy trì công việc này thường xuyên, mối liên lạc giữa thầy và trò, giữa các bạn cùng khóa được gắn kết. Ngày trước ở bậc trung học, đa số chúng tôi cùng học chung với nhau đến 7 năm, thời gian dài như vậy có biết bao kỹ niệm đáng nhớ trong đời. Một cựu học sinh trường bạn rất ngạc nhiên khi thấy cựu học sinh trường chúng tôi thực hiện công việc này rất tốt dù buổi đầu mang tính tự phát. 
Kỹ niệm 55 năm vào trường, mốc thời gian rất dài, ngay cả anh chị em khóa học chúng tôi cũng chưa dám nghĩ đến. Hơn nửa thế kỹ đã trôi qua biết bao sự kiện đã làm thay đổi đời sống xã hội. Người còn, người mất. Những bạn còn lại cùng học chung dưới mái trường năm xưa thật hạnh phúc được ngồi bên nhau ôn lại những kỹ niệm êm ả của ngày tháng học trò với biết bao buồn vui lẫn lộn. Được gặp lại thầy cô, bạn cũ, có người mất liên lạc đã lâu thật là niềm vui khó tả.
Tôi đọc trên trang cá nhân thấy các anh chị đang nô nức chờ đợi ngày đó diễn ra bỗng vui lây. Có người còn đề nghị trong ngày đó nên làm những món ăn vặt đúng chất học trò để cùng nhau thưởng thức. Vui thật, toàn những người đã sắp sửa bước vào tuổi 70 vẫn hồn nhiên trẻ trung. Ngày xưa ở vào tuổi này đã thành những ông bà già đi đứng lụm cụm, đâu được như thời chúng ta vẫn còn chất trẻ yêu đời như thế. Để kỹ niệm mốc thời gian đáng nhớ, có bạn còn muốn làm đặc san với những bài viết hoài niệm về tuổi học trò. Dưới mái trường thân yêu với thầy cô, bè bạn luôn là đề tài không bao giờ cũ. 
Bạn tôi ở phương xa nhắn tin về cho biết ý tưởng tổ chức của khóa đàn anh điều đó rất hay, còn anh chị em trong khóa có nghĩ đến một ngày như vậy hay không. Lời nhắn của bạn cũng là điều mong ước chung của anh chị em của khóa. Chúng tôi hiểu rằng, theo thời gian tuổi tác các bạn ngày càng cao, cơ hội để tổ chức sẽ không còn nhiều nữa. Nếu có sự đồng lòng chung sức của anh chị em trong khóa, không có lý do gì chúng tôi không thực hiện.
Ngày hội ngộ như thế luôn là niềm mơ ước cháy bỏng trong lòng chúng tôi. Khi mới bàn qua vài anh chị em tâm huyết trong khóa, người nào cũng rất vui khi nghĩ đến có một ngày thật hạnh phúc như thế. 

Trong hình ảnh có thể có: 24 người, bao gồm Hang Lieu Thi Tu, mọi người đang cười, đám đông và ngoài trời

Tuấn Ba

Chủ Nhật, 14 tháng 7, 2019

TÌNH BÀ CHÁU



Em mồ côi mẹ từ nhỏ. Cha bỏ đi xa lập gia đình khác nên bà ngoại đưa cháu về nuôi nấng. Bà ngoại đã già rồi, làm ra tiền không nhiều, phải tiện tặn trong cuộc sống. Trong vòng tay của ngoại em lớn lên bằng cả sự thương yêu vô bờ bến của người bà.
Thương ngoại cực khổ, mới 12 tuổi nhưng mỗi buổi sáng em đi bán bánh mì dạo. Bán xong bánh mì, em lấy vài chục tờ vé số đi bán tiếp rồi trưa về mới đi học. Hai khoảng lời cộng lại rất ít ỏi nhưng đủ để chi tiêu cho hai bà cháu trong ngày. Nhờ vậy, bà ngoại của em không còn vất vả mưu sinh cực nhọc như trước nữa. Bà con hàng xóm thấy em còn nhỏ nhưng biết chịu khó, sống hiếu thảo nên ai cũng thương.
Trong một lần họp mặt đầu năm cựu học sinh của khóa học, gặp bạn bè cũ tôi có kể hoàn cảnh của em cho các bạn tôi nghe.Tôi đã quên mất trong đám bạn tôi có người ngày xưa có hoàn cảnh tương tợ như vậy. Ngày ấy, bạn tôi ở với bà nội và mỗi buổi sáng cũng đi bán bánh mì dạo như thế. Bạn tôi có chí, tuy sống trong hoàn cảnh khó khăn nhưng ăn học đến nơi đến chốn.Nghe kể lại câu chuyện các bạn tôi muốn sau buổi họp mặt này đi thăm gia đình em bé nọ để giúp đỡ phần nào trong việc học tập của em.
Ngôi nhà nhỏ đơn sơ trong con hẽm nhỏ.Có khách đến thăm, bà ngoại em thật bất ngờ. Nghe thêm chuyện kể về em, chúng tôi rất cảm mến dù hoàn cảnh gia đình hết sức khó khăn nhưng em vẫn vượt khó học tập và là một học sinh giỏi.
Bà ngoại em tâm sự: “Tôi năm nay đã gần 80 tuổi rồi chắc còn sống không được bao lâu nữa. Nhớ lại hồi lúc cha em đòi giao con lại cho tôi mình cứ suy nghĩ mãi không biết lấy gì để nuôi cháu. Nhưng tình bà cháu không cho phép tôi vô tâm với cháu.Tôi chỉ có một đứa con, nay mẹ nó mất rồi sao số mình vô phước quá vậy. Nhưng trời sinh trời dưỡng, bà con lối xóm cũng đùm bọc bà cháu tôi trong lúc khó khăn. Con nhà mồ côi sống trong cảnh nghèo nó đâu biết đua đòi như con nhà người ta. Điều bây giờ tôi lo lắng, khi tôi mất đứa cháu ngoại sẽ bơ vơ trong cuộc đời, nghĩ đến điều đó có đêm tôi chẳng ngủ được. Tôi chẳng muốn gì cho mình, nhưng mong mỏi được sống thêm vài ba năm nữa để cháu lớn thêm một chút được vững vàng hơn trên đường đời”.
Tuy là người không quen biết, nhưng cả chủ và khách đều vui. Buổi viếng thăm diễn ra ngắn ngủi nhưng để lại nhiều nỗi nhớ rất khó quên.Tôi nhớ đến bóng dáng em, một cậu bé nhỏ nhoi so với bạn cùng trang lứa. Trong khi các bạn của mình được cha mẹ lo lắng đầy đủ, em phải vất vả trong cuộc sống.Tôi nhớ đến bà ngoại em với khuôn mặt khắc khổ, hiền từ. Hai bà cháu nương tựa cùng nhau chống đỡ bao giông bão của cuộc đời. Sống đến tuổi này, điều lo lắng của bà ngoại em rất thực tế và điều chúng tôi mong mỏi ngày bà cháu bên nhau được lâu dài hơn nữa.


Tuấn Ba

MƯA THÁNG BẢY.








ANH HAI!


(Quý tặng Anh Chị DVB và Chị Yến)


Hồi học Hoàng Diệu, tôi chưa biết anh nhiều, vì anh trên tôi một lớp. Đến khi anh và anh xã tôi cùng một số đồng môn Hoàng Diệu cùng khối lớp vào đại học, các anh có dịp đón đàn em năm cuối (12) lên tham quan, thì chúng tôi có thân hơn… Năm sau, vào Năm nhất trường Đại học Cần Thơ, tôi trở thành “Cô Út” của một nhóm gồm 6 anh em, mà anh là anh Hai, và anh xã tôi là áp… út.
Tôi và chị Thủy học chung lớp, cùng ở trọ nhà chị Ba bán cơm trên đường Tự Đức (nay là Lý Tự Trọng) Cần Thơ. Có lẽ, đó là một trong những cơ duyên giúp anh Hai và chị Thủy quen nhau, rồi sau nên nghĩa vợ chồng. Chị quê xứ Thơm Rơm - Thốt Nốt, từ ngày về quê chồng sinh sống, đến nay xem như đã gắn bó gần cả đời với Sóc Trăng. Khi còn ở nhà tập thể, lẫn khi có nhà riêng, rồi mua ruộng xa tít chợ Sóc Trăng về phía Sung Đinh… chị trở thành hậu phương vững chắc của chồng nhờ việc nấu sữa đậu nành, quay rau má, vô chai, bỏ mối. Thoạt tiên chỉ khoảng ba bốn chục lít/ngày, sau tăng lên, gần chút trăm. Lúc ấy, anh Hai suốt ngày lo việc cơ quan, chị chăm sóc con cái cộng với ngần ấy việc, khá nhọc nhằn. Từ nhà đến ruộng khá xa. Muốn đi ra ruộng, phải đèo nhau trên xe, tới gởi xe tại nhà bạn Thu Hiền ở đường Chợ Gà (nay là Mai Thanh Thế) rồi lội bộ đi. Mà đâu phải đường khô ráo, rộng thênh, “hoành tráng” như bây giờ. Có khi chị cằn nhằn “Mua ruộng chi mà xa dữ vậy hổng biết nữa…” Chị nói vậy thôi chớ không hề bỏ bê mảnh ruộng. Chị vốn là người chịu thương chịu khó, hiền lành, hết dạ thương yêu chồng con…
Có lẽ cảm thương anh chị và các cháu của mình, cô em gái của anh đã đồng tình, cùng cha già rời quê nhà Tham Đôn ra Sóc Trăng để gia đình “gom về một mối”, nhằm tiện bề giúp đỡ anh, vừa tạo điều kiện cho anh Hai được ở gần cha mà yên tâm công tác… Từ ấy, việc chăm sóc ruộng nương, trồng và cắt huệ đem bán nghe má tôi kể, đa phần do cô em gái anh Hai đảm nhiệm!
Lúc nghe má nói anh Hai có miếng ruộng trồng huệ ở gần đâu miệt Sung Đinh, tôi không có ý định tìm tới nơi này tham quan. Vì mỗi lần về quê, vợ chồng tôi không có nhiều thời gian, chỉ tranh thủ tới thăm anh chị tại căn nhà ở phía sau hông trường Hoàng Diệu. Khi ấy, tôi cũng không biết gì nhiều về chị Yến, em gái của anh Hai. Chỉ thầm ngưỡng mộ chị về việc đã sẵn lòng buông bỏ sự nghiệp riêng, để đỡ đần, giúp sức cho gia đình anh trai mình…
Ký ức tôi còn lưu giữ về chuyến đi Hòa Tú, trên đường có ghé thăm ba của anh Hai tại Tham Đôn. Lúc ấy chị Yến đang làm việc ở xã (hay huyện gì đó), không có nhà. Bữa ăn hôm ấy có dĩa muối ớt chanh, và một chiếc rổ (tre, khá to) đựng đầy nhóc những con tép đất luộc đỏ au, thịt ăn ngọt lịm từ chân răng xuống tới dạ dày… Hồi đó Tham Đôn nghèo lắm, chợ xã đâu có nhóm lâu, nên cả nhà ăn tép luộc đã đời, mà tôi còn thòm thèm, xuýt xoa trong bụng “Phải chi có rau, bún, thịt ba rọi và bánh tráng cuốn, chấm tương đen xay trộn ít dưa củ cải trắng, cà rốt xắt sợi và mớ ớt bằm, đậu phọng…”. Ngày ấy anh Hai chưa cưới vợ. Ít lâu sau, ngày cưới của anh chị cách sau ngày cưới của vợ chồng tôi tròn đúng hai năm (trước Tết nguyên đán khoảng tuần lễ). Đó cũng là ngày cúng thất đầu tiên của ông Nội tôi. Nhưng bà Nội tôi vẫn bình thản cho phép “Tụi con cứ đi đám cưới tụi nó đi. Nội cũng thương hai đứa nó. Người sống và ngày cưới quan trọng hơn…”
***
Bây giờ, mỗi khi về Sóc Trăng, vợ chồng tôi thường tranh thủ tới thăm gia đình anh chị Hai. Căn nhà nhỏ phía sau trường Hoàng Diệu đã chia phần cho con trai giữa. Đứa con đầu lòng cùng gia đình nhỏ của nó thì đang sinh sống ở Sài Gòn, khá đơn chiếc vì hai con còn nhỏ, mà cha mẹ đều đi làm. Có dạo chị Thủy phải lên trên ấy phụ giúp bởi cháu nội đau bệnh, ốm yếu. Song, từ khi anh Hai bất ngờ bị tai nạn, phải điều trị mất mấy tháng mà cái chân vẫn không lành hẳn… thì chị ở nhà cho đến nay. Dù vậy, chị luôn trong tư thế sẵn sàng, hễ trên thành phố ới một tiếng là chị sẽ lên đường đi tiếp ứng.
Như vậy là, trừ con trai út độc thân, trong nhà có ba người đều ở vào độ tuổi U70. Mỗi lần chúng tôi ghé thăm, cả nhà vui phết. Nào nấu sẵn chè bạch quả, củ năng “ăn cho mát”, hoặc chặt dừa tươi “uống cho mát”. Nào hái ổi, hái rau, có khi cắt huệ, để vào bọc (có nước) “cho hoa được tươi lâu” biểu chúng tôi “khuân” về Cần Thơ… Ngoài gia đình hai bên của vợ chồng tôi, gia đình anh Hai thật sự như một gia đình ruột thịt. Mỗi khi bước vào nhà anh, tôi như có cảm giác về lại chính ngôi nhà mình - bởi không khí trong lành, nồng ấm, và vô cùng mát mẻ. Đến khi từ giã, dọc đường về Cần Thơ, tôi lại có cảm giác rưng rưng, với nỗi niềm “lại rời đi, lại nhung nhớ Sóc Trăng!” Biết làm sao! Hai con tôi được sinh ra tại Cần Thơ. Anh xã tôi dù đã nghỉ hưu, vẫn còn khối việc làm nơi ấy… Thôi thì, cứ chấp nhận, như từ mấy chục năm nay: Mỗi năm, chúng tôi sẽ về thăm quê vào những lần giỗ chạp, vào dịp Tết, hoặc vào những dịp cưới hỏi của con cháu quý đồng môn Hoàng Diệu thân yêu…
Bây giờ, có thêm lý do để chúng tôi càng thường xuyên đến với gia đình anh Hai hơn nữa. Đó là, tôi vô tình phát hiện, ngoài việc vườn, ruộng và mang sản phẩm nhà vườn ra chợ bán, chị Yến có niềm say mê duy nhất là đọc sách. Có lần chị nói với tôi rằng, quần áo đẹp chị không cần, chị chỉ mê đọc sách. Bất cứ một tờ báo hay quyển sách nào có trong tay, chị đọc cho bằng hết. Những cuốn tập san hoặc kỷ yếu qua những lần kỷ niệm thành lập trường Hoàng Diệu, chị đọc không sót chữ nào…
Vậy là, tôi có “mối” để tặng sách. Hết sách của chính mình, tôi lục thêm từ tủ sách gia đình, mang về Sóc Trăng tặng chị.
Xin cảm ơn chị Yến - người cho tôi năng lượng và động lực, tiếp sức tôi trên cuộc hành trình “trả nợ dâu”!
Nguyễn Thị Thanh Ngọc
(12-7-2019)

Mấy độ duyên lành



Buổi chiều tối mùa đông băng giá, bên ngoài tuyết phủ trắng xóa lấp lánh dưới ánh trăng rằm cuối năm, Quân đem vài thanh củi đến bên lò sưởi đốt lên sưởi ấm căn phòng. Mùi gỗ thông thơm thoang thoảng dễ chịu.
Như thường lệ, sau khi dùng cơm chiều, anh thường đem máy laptop đến ngồi trên chiếc ghế bành cạnh lò sưởi, vào mạng internet. Anh thích cảm giác ấm áp từ ánh lửa tỏa ra, thích ánh sáng chập chùng đem đến niềm thư thái an lạc.
Hôm nay, sau khi đọc tin tức đó đây, Quân vào trang mạng Craiglist được hầu hết người ở Mỹ dùng để giao dịch mua bán đồ dư thừa tại địa phương, anh muốn kiếm cái máy thổi tuyết đã dùng qua nhưng không thấy ai đăng bán. Trong lúc định tắt máy, anh ngước nhìn bức tranh sơn dầu có hình Đức Phật mỉm cười treo trên tường, ánh sáng từ lò sưởi làm bức tranh sống động linh thiêng lạ kỳ. Bỗng nhiên Quân vô ý thức gõ chữ Buddha (Phật), trên trang mạng Craiglist và bấm nút search (tìm).
Trên màn hình, những dòng chữ hiện ra: Cần chuyển nhượng chiếc tủ thờ Phật, nhà sắp bàn giao. Xin liên hệ ông Ted Tazuma số điện thoại… để biết thêm giá cả và chi tiết.
Hết sức ngạc nhiên, Quân không ngờ trang mạng tại một tiểu bang đa số người da trắng lại xuất hiện mẩu tin này, ngày đăng lời rao vặt cũng đã gần ba tháng. Đọc tên họ, anh biết ông Ted là người gốc Nhật. Nhìn đồng hồ cũng chưa quá tối, anh bấm số gọi, bên kia đầu dây có tiếng người đàn ông lớn tuổi:
- Xin chào, đây là Ted Tazuma.
- Cháu là Quân, có đọc mẩu tin rao bán chiếc tủ thờ nên gọi cho ông. Cháu là Phật tử. Ông có thể gởi hình cho xem trước và cho biết giá được không ạ?
- Anh là Phật tử à! Thật tốt quá. Về hình và giá, có lẽ anh nên đến xem để cảm nhận trọn vẹn, chúng ta sẽ nói chuyện với nhau.
- Thưa ông Ted, có ai xem và trả giá chưa ạ, xin ông cho địa chỉ.
- Cũng có vài nơi trả giá nhưng chúng tôi vẫn chưa quyết định bán. Địa chỉ nhà tôi là…
- Ô, nhà ông Ted ở tận North-Bend à? Cách nơi cháu gần 200km. Ông có thể chờ đến ngày thứ Bảy được không? Ngày cuối tuần nghỉ làm, cháu mới lái xe đi được.
- Ừa được, tôi chờ anh nhé. Không chờ lâu hơn được nhé, vì thứ Tư sau đó tôi đã giao nhà cho người mua rồi.
*
Thứ Bảy, Quân dậy sớm chuẩn bị cho chuyến lái xe xa. Bên ngoài tuyết vẫn rơi, phủ dày. Anh cặm cụi móc dây xích chống trơn trượt vào các bánh xe pickup (bán tải), đem theo xẻng, đồ ăn khô, thức uống, túi ngủ để đề phòng trường hợp tuyết lở trên các đoạn đèo làm đường nghẽn không di chuyển được. Quân không ngờ mình lại quyết định lái đến nơi xa trong tình trạng thời tiết băng giá để xem một vật không biết rõ hình thể, chất lượng, cũng không biết giá cả ra sao. Có điều gì đó thôi thúc anh và có lẽ đây là lần đầu tiên anh hành động như thế.
Quân lái xe trên con đường tỉnh lộ hoang vắng, những cánh đồng tuyết dài bất tận, những rừng dương, đồi núi hùng vĩ khoác màu trắng trinh nguyên đẹp lạ kỳ. Thông thường vào mùa hè, khoảng cách từ nhà Quân đến ông Ted chỉ cần 2 giờ lái. Mùa đông do đường đóng băng, xe phải gắn xích, thời gian lái tăng lên gấp đôi vì không thể lái nhanh được.
Tuy nhiên, do phải chú tâm thao tác tay lái liên tục để chống trượt, Quân thấy thời gian trôi qua rất nhanh, chẳng mấy chốc anh thấy mình đã đến thành phố North-Bend lúc gần trưa dù ra đi hồi sáng sớm. Theo hướng dẫn của máy bản đồ định vị, Quân cho xe dừng lại trước căn nhà gạch, đồ sộ như biệt thự. Lối bộ hành từ chỗ đậu xe đến cửa được thổi tuyết sạch sẽ tươm tất. Đến bên cánh cửa đôi bằng gỗ tếch sang trọng, anh bấm chuông.
Một lúc lâu, cụ già có nét mặt Á châu Nhật Bản, tay chống gậy, mở cửa, cười hiền lành:
- Anh đi vào kẻo lạnh, thời tiết như thế này tưởng anh không tới được.
Quân bước vào trong, căn phòng khách rộng có nhiều thùng đựng đồ được chồng lên nhau như chuẩn bị dọn nhà. Ông cụ bước đi yếu đuối, hai tay chống trên khung gậy trợ lực, mời anh theo ông qua phòng kế bên. Ông bật đèn lên, trước mặt Quân là một chiếc tủ đen, cửa đóng kín, nằm uy nghi giữa căn phòng có sàn gỗ hoàn toàn trống trải.
Ông Ted lên tiếng:
- Anh tự nhiên xem nhé. Anh thích mua thì chúng ta nói chuyện.
Chiếc tủ có chiều cao khoảng 1m5, phần dưới có các hộc tủ, phần trên có bộ khung cửa 4 cánh được đính bản lề kim loại rất tinh tế nhưng mạnh mẽ khiến Quân cảm được năng lực thiêng liêng, cao quý bên trong. Quân bước chậm nhẹ đến trước chiếc tủ, ông Ted dõi mắt nhìn theo. Quân đứng lặng yên vài giây, nghiêm trang chắp tay kính cẩn xá một xá. Không gian tĩnh lặng quá, Quân nghe được cả tiếng tim đập, anh hồi hộp mở 2 cánh cửa: một vừng hào quang lung linh phản chiếu diệu kỳ, Quân giương to mắt ngạc nhiên trầm trồ!
Mặt sau đôi cánh cửa đen được dát vàng lóng lánh, Quân đối diện đôi cửa thứ hai chạm trổ tinh vi có màn lưới mỏng thấy được kiến trúc huyền bí, mờ ảo bên trong. Nhẹ nhàng, anh mở nốt cánh cửa thứ hai: Một Phật Hùng Bảo Điện uy nghi, sáng ngời hiển lộ. Hình ảnh Đức Phật lấp lánh, sống động tỏa từ quang chiếu rọi. Một thế giới tâm linh trang nghiêm, tràn đầy Phật lực.
Quân ngạc nhiên xuýt xoa như không tin vào mắt mình khi thấy được nội điện bên trong chiếc tủ. Một cấu trúc chùa chiền vĩ đại không những về kiến trúc mà cả tâm linh được công phu thể hiện gọn nhỏ bên trong chiếc tủ như nghệ thuật bonsai điêu luyện. Đứng trước chiếc tủ gỗ, Quân cảm được uy lực, nét trang nghiêm vốn chỉ có nơi chốn thiền môn. Anh quỳ xuống, thành tâm lạy ba lạy như mỗi khi vào Phật điện.
Sau đôi cánh cửa đen ấy là một thế giới tâm linh trang nghiêm, tràn đầy Phật lực - Ảnh: Huyền Lam
Quân quay về hướng ông Ted:
- Ông ơi! Chiếc tủ thờ uy nghi, công phu mỹ thuật quá. Cháu thấy lần đầu tiên trong đời. Chiếc tủ này phải quý lắm, giá phải cao lắm. Cháu e mua không nổi. Được chiêm ngưỡng chiếc tủ thật không uổng công cháu lái xe đến đây ông ạ.
Ông Ted khuôn mặt tươi, cười rạng rỡ:
- Cháu qua phòng khách, chúng ta cùng nói chuyện.
Cha ông Ted sinh ra ở Nhật; ông theo cha mẹ qua Mỹ định cư khi chỉ mới 2 tuổi. Đây là chiếc tủ thờ Phật của cha ông Ted, không biết có từ thời nào. Ông Ted còn nhớ hồi 2, 3 tuổi đã được cha hướng dẫn tới đảnh lễ trước tủ thờ. Hai mươi năm trước cha mất, ông thừa hưởng chiếc tủ thờ dù đã có riêng một chiếc nhỏ hơn nhiều. Cách đây 4 năm, ông Ted bị đụng xe chấn thương cột sống nên di chuyển khó khăn, nay tuổi đã lớn không thể sống một mình, đành bán nhà vào khu dưỡng lão. Do diện tích phòng trong khu dưỡng lão khá khiêm tốn, ông chỉ có thể đem theo chiếc tủ thờ Phật nhỏ của mình.
Ngồi xuống chiếc ghế nệm, ông Ted chậm rãi:
- Cháu thích chiếc tủ này lắm phải không?
Quân nhìn ông, mỉm cười gật đầu:
- Cháu chưa bao giờ thấy được một tủ thờ huyền diệu tuyệt mỹ như vậy. Khi đứng đối diện tủ thờ, cháu cảm được nguồn thiêng liêng, từ lực phát ra ông ạ.
Ông Ted choàng tay qua, vỗ nhẹ nhẹ vào vai Quân:
- Nhiều người đọc tin rao vặt xin đến xem. Có người trả 1 ngàn, 5 ngàn, có người trả 10 ngàn... nhưng ta không bán vì họ toàn là những người sưu tầm đồ cổ hoặc thấy đẹp mua về để trưng bày.
Quân chêm vào:
- Nhưng cháu không đủ tiền để mua vật quý giá này đâu thưa ông.
Giọng ông Ted lộ chút xúc động:
- Nhìn cháu tiếp xúc chiếc tủ thờ, ta biết đã gặp đúng người. Còn vài ngày nữa là giao nhà, ta cứ tưởng phải tiễn chiếc tủ thờ cho các người sưu tầm đồ cổ.
Ông Ted nhìn Quân một lúc lâu, cười hiền từ:
- Ta bán cho cháu giá 200 nhé, không thêm, không bớt. Ta không thể cho, vì cho thì cháu sẽ mang ơn ta.
Quân hốt hoảng:
- Không thể được đâu ông ạ. Chiếc tủ quý thế này phải trên 10 ngàn ông ạ. Cháu được xem lần đầu là thỏa nguyện rồi. Ông hãy bán cho người sưu tầm đồ cổ để có tiền lo cho tuổi già.
Ông Ted cười lanh lảnh:
- Ta đã bán căn biệt thự này thì thêm 10 ngàn, 20 ngàn đâu có thay đổi gì. Điều ta cần là tìm được người mỗi ngày biết sống, biết giao cảm thiêng liêng với chiếc tủ thờ. Trong hộc tủ thờ, có vài cuốn kinh, văn hóa phẩm bằng tiếng Nhật của cha ta. Con giữ làm kỷ niệm, không thì đốt giùm nhé. Ta đã giữ quá nhiều đồ của ông cụ rồi, không thể đem thêm được nữa, ta lại không biết tiếng Nhật.
Quân bối rối:
- Cháu rất cảm động, cám ơn ông nhiều lắm. Cháu cứ tưởng mình đang sống trong mơ ông ạ.
*
Quân trang trọng an vị chiếc tủ thờ trong phòng khách được anh thiết kế thành thiền phòng. Mỗi đêm anh thường tắt hết đèn điện, thắp ngọn nến nhỏ, gõ tiếng chuông ngân vang, ngồi thiền. Một không gian phản chiếu hào quang huyền diệu. Quân cảm được năng lượng từ bi, thanh tịnh phát tỏa từ Đức Phật lung linh gần gũi.
Vài tháng sau, Quân bắt đầu xem những tập sách in bằng tiếng Nhật xếp đầy trong các hộc tủ bên phần dưới tủ thờ. Cầm từng cuốn sách, lật vài trang, liếc vội dòng chữ, anh nghĩ thầm chắc đây là lời kinh bằng Hán tự như tiếng Việt xưa. Anh chợt để ý dòng chữ bên trong tập sách mỏng như được viết bằng bút lông, ruột sách hầu hết là giấy trắng đã hoen màu, ngoài bìa có vài chữ được in lớn.
Quân dù không biết Hán tự, nhưng nhìn nét bút lông tinh tế, đẹp đều, anh suy đoán những dòng chữ này ắt phải có ý nghĩa rất quan trọng. Anh chụp hình bìa sách rồi gởi tin nhắn (text message) đến người bạn Việt Nam sống tại Nhật mà anh quen qua mạng xã hội:
- Chị Du ơi, lâu ngày không liên lạc, nay làm phiền chị rồi. Mấy chữ ngoài bìa sách nói gì thế?
Chị Du:
- Chào anh Quân, lâu quá nay mới thấy. Chữ này có nghĩa là Gia Phả Tổ Tiên.
Quân chụp hình trang viết tay gởi chị Du:
- Chị dịch thêm vài dòng trang này nhé, có phải là chữ viết tay không?
Mấy trang này nói ngày sinh, ngày mất của ông bà tổ tiên, nghề nghiệp, quê quán… tương tự cách ghi chép gia phả của người Việt Nam. Nét chữ rất đẹp, có thể do quý tôn sư trong chùa viết.
Quân kể chị Du nghe về chiếc tủ thờ và người Mỹ già gốc Nhật rồi nhờ thêm:
- Có 3, 4 trang chị dịch ra tiếng Việt giùm nha, rồi Quân sẽ dịch ra tiếng Anh. Biết đâu ông già Nhật muốn biết những điều này. Mai mốt gặp nhau ở Mỹ hay ở Việt Nam, Quân hậu tạ nhé!
Chị Du:
- Không sao đâu anh Quân, giúp chút xíu có gì đâu mà. Nhưng đãi nhà hàng thì cũng nhận đấy!
*
Hôm sau, Quân gọi cho ông Ted theo số lưu lại trong điện thoại di động. Anh hồi hộp nghe chuông reng, hy vọng ông không đổi số, đầu dây có tiếng quen thuộc:
- Xin chào, tôi Ted đây.
Quân mừng rỡ:
- Chào ông, cháu là người mua tủ thờ của ông. Ông ơi, mấy cuốn kinh trong hộc tủ thờ, có cuốn là gia phả nhà ông.
Ông Ted ngạc nhiên:
- Hả, cháu nói gì, cuốn gia phả hả?
- Dạ phải, vì ghi ngày sinh, quê quán, nghề nghiệp của hầu hết người có tên họ là Tazuma.
Ông Ted thốt lên mừng rỡ:
- Ôi tốt quá! Thật không ngờ. Khi cha ta sống thì ta không thèm để ý. Đến khi cha ta mất, khát khao muốn biết gốc gác thì không biết hỏi ai. Gần đất xa trời ta cứ ôm hận không biết tổ tiên mình.
Quân nhẹ nhàng:
- Dạ, ông cho cháu địa chỉ mới, cháu gởi cuốn gia phả và bản dịch tiếng Anh cho ông ạ.
Ông Ted sung sướng cười lanh lảnh:
- Nhân quả, Phật pháp tuyệt vời làm sao. Nếu ta ham tiền thì đâu thể gặp cháu. Cháu cho ta món quà vô giá!
Ông cười to, nói tiếp:
- Một ông Việt ở Mỹ mua đồ của ông Nhật gốc Mỹ, rồi ông Việt lại nhờ bạn Việt ở Nhật dịch tiếng Nhật ra tiếng Việt, ông Việt lại dịch ra tiếng Mỹ... Chuyện như một giấc mơ, cháu nhỉ!
Quân phấn khởi cười với ông:
- Dạ, cháu đến giờ nhìn tủ thờ vẫn tưởng đang mơ ông ạ. Ông và cháu có một giấc mơ rất đẹp.
Ông Ted cười khoái chí:
Điều đẹp nhất là giấc mơ của chúng ta có thật. Phật pháp nhiệm mầu quá, cháu nhỉ!
Huyền Lam

PHONG CẢNH ĐẸP Ở HÀN QUỐC






















CHÀO MỪNG QUÝ THẦY CÔ VÀ ĐỒNG MÔN TRƯỜNG HOÀNG DIỆU SÓC TRĂNG THAM QUAN, ỦNG HỘ HOANGDIEUTRUONGXUASAIGON.BLOGSPOT.COM. CHÚC THẦY CÔ VÀ ANH CHỊ EM NHIỀU SỨC KHỎE, THÀNH CÔNG TRONG CÔNG VIỆC.