.

.

a

Hoa đào nở, chim én về, mùa xuân lại đến. Chúc quý thầy cô và anh chị em đồng môn năm mới Bính Ngọ 2026 : - nghìn sự như ý, vạn sự như mơ, triệu sự bất ngờ, tỷ lần hạnh phúc.
THƯƠNG CHÚC THẦY CÔ, ANH CHỊ EM ĐỒNG MÔN TRƯỜNG HOÀNG DIỆU - MỘT NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026 AN KHANG THỊNH VƯỢNG - VẠN SỰ NHƯ Ý

09 tháng 3 2026

Thủy thủ La Mã và câu chuyện nước ngọt giữa biển.

 





Giữa mặt nước Địa Trung Hải phẳng lặng hay cuộn gió, một con tàu La Mã với cánh buồm vuông căng gió luôn phải mang theo thứ quý giá hơn cả lương thực: nước ngọt. Muối của biển có thể bảo quản cá, có thể tạo nên những hải trình dài, nhưng lại là kẻ thù của cơ thể con người. Người La Mã hiểu điều ấy rất rõ. Họ không uống nước biển theo cách đơn giản như nhiều huyền thoại kể lại. Họ chuẩn bị, tính toán và đôi khi vận dụng kỹ thuật để biến điều tưởng như bất khả thành có thể.
Trong các chuyến hải hành, nước được trữ trong amphora bằng đất nung hoặc thùng gỗ lớn. Đất nung giữ nhiệt độ ổn định, hạn chế ánh sáng và giúp nước mát hơn trong những ngày nắng gắt. Để tránh hư hỏng, binh lính và thủy thủ thường pha nước với giấm loãng hoặc rượu nhẹ, tạo thành thức uống gọi là posca. Vị chua thanh ấy vừa dễ uống, vừa có tác dụng sát khuẩn nhẹ. Thức uống này theo chân quân đoàn khắp đế chế, từ sa mạc Syria đến bờ biển Hispania.
Tuy vậy, trên biển dài ngày, sự cố vẫn có thể xảy ra. Khi nguồn dự trữ cạn dần, người La Mã biết đến một phương pháp đã được các học giả cổ đại ghi chép: chưng cất. Pliny the Elder trong tác phẩm Naturalis Historia từng mô tả cách làm ngọt nước biển bằng cách đun sôi và thu lại hơi nước ngưng tụ. Nguyên lý rất đơn giản: khi nước bốc hơi, muối ở lại; phần hơi nước khi gặp bề mặt lạnh sẽ ngưng thành nước ngọt. Trên tàu, phương pháp này có thể được thực hiện bằng một nồi kim loại đặt trên bếp than, phía trên là tấm nắp nghiêng hoặc vải dày để hứng hơi nước. Từng giọt chảy xuống vật chứa khác, ít ỏi nhưng đủ cứu nguy trong hoàn cảnh khắc nghiệt.
Ngoài kỹ thuật, kinh nghiệm đi biển cũng đóng vai trò quan trọng. Người La Mã am hiểu cấu trúc bờ biển Địa Trung Hải. Ở nhiều nơi, nước ngọt từ đất liền thấm ra sát mép biển, tạo thành tầng nước lợ nhẹ nổi trên lớp mặn phía dưới. Chỉ cần đào nông gần bãi cát hoặc tìm hốc đá phù hợp, họ có thể thu được nước tương đối dễ uống. Hải trình của họ hiếm khi tách rời hoàn toàn khỏi đất liền; mạng lưới cảng biển dày đặc cho phép tiếp tế thường xuyên, giảm áp lực phải phụ thuộc hoàn toàn vào chưng cất.
Câu chuyện nước ngọt của thủy thủ La Mã phản ánh tinh thần thực tế của một nền văn minh đặt kỹ thuật vào trung tâm đời sống. Từ hệ thống aqueduct đưa nước về thành Rome đến những amphora xếp đầy trong khoang tàu, tất cả đều cho thấy sự hiểu biết sâu sắc về quản lý tài nguyên. Trên mặt biển, nơi mọi thứ có thể trở nên mong manh, từng giọt nước được gìn giữ bằng tri thức và kỷ luật.
Nhìn lại, kỹ thuật chưng cất thô sơ ấy không tạo ra sản lượng lớn, nhưng thể hiện khả năng quan sát và ứng dụng khoa học của thời cổ đại. Đó là sự kết hợp giữa hiểu biết tự nhiên, kỹ năng thủ công và tổ chức hậu cần. Trong hành trình mở rộng khắp Địa Trung Hải, những con tàu La Mã mang theo không chỉ binh lính và hàng hóa, mà còn mang theo cả nghệ thuật sống sót giữa biển mặn – nơi nước ngọt trở thành biểu tượng của sự bền bỉ và trí tuệ con người.

Pane e Vino - 3 Nguyễn Khắc Cần



Bà Henriette Bùi sinh năm 1906 là nữ bác sĩ đầu tiên của Việt Nam. Là con gái ông Bùi Quang Chiêu, nguyên quán ở Bến Tre, Henriette ra đời ở Hà Nội và lớn lên ở Sài Gòn, học trường Lycée Marie Curie (nay trường vẫn được giữ tên Marie Curie). Henriette thừa hưởng tính năng nổ, tháo vát, chịu thương chịu khó từ người mẹ (bà Vương Thị Y, xuất thân trong gia đình người Hoa ở Chợ Lớn, là thương gia rất giàu có nhờ làm ăn kinh doanh nhà cửa đất đai vùng Phú Nhuận khi nơi này đang mở mang. Chính nhờ có vốn liếng tài sản mà các con ông bà đều không nhận bất cứ một học bổng nào của chính quyền thuộc địa, mà đều du học Pháp tự túc).
Henriette được sống trong môi trường nhiều thuận lợi: gia đình khá giả, có kiến thức của hai nền văn hóa Âu Á, được thêm sự giáo dục phóng khoáng. Với nền tảng ấy nên từ thủa nhỏ, cô gái đã thể hiện cá tính độc lập với năng lực khác thường. Henriette rất thông minh, tính bướng bỉnh nhưng lại có khiếu hài hước, nói chuyện dí dỏm. Được bằng Certificat d'Études hạng xuất sắc, Henriette nằng nặc đòi được cha mẹ cho đi du học ngành y ở Paris. Cho con gái tuổi còn vị thành niên đi du học thời bấy giờ là việc hy hữu, nhưng thấy con quyết chí, cha mẹ cô đành chiều ý. Cô tiểu thư nhà họ Bùi ra bến tàu Sài Gòn, xuất ngoại năm 1921, sang du học ở Agen miền nam nước Pháp. Lúc ấy Henriette mới có 14 tuổi cho nên ông bà Bùi Quang Chiêu phải thuê một giáo sư trường Marie Curie đi cùng để chăm lo việc sinh sống và học hành của con gái.
Henriette học rất giỏi, ngoài tiếng Việt, tiếng Pháp và tiếng Trung, còn thông thạo tiếng Anh, Tây Ba Nha, tiếng Ý, tiếng La Tinh và Hy Lạp. Năm 1925, Henriette đậu Tú tài toàn phần rồi vào trường Y năm 1926 khi 20 tuổi. Khi đó ở tất cả các đại học ở Pháp còn rất ít sinh viên nữ, và ngành y lại càng hiếm hơn. Sau tám năm học y và nội trú tại các bệnh viện, năm 1934 Henriette trở thành bác sĩ người Việt đầu tiên tốt nghiệp Ðại Học Y Paris. Về Việt Nam, bs Henriette làm việc tại bệnh viện Đô Thành Sài Gòn, sau đó được bổ nhiệm làm bác sĩ trưởng phụ trách bv Hộ Sinh ở Chợ Lớn, là người phụ nữ Việt đầu tiên chịu trách nhiệm quản lý điều hành hệ thống bệnh viện thuộc địa. Với cá tính độc lập và không khoan nhượng, bà gặp nhiều khó khăn với các vị quan chức người Pháp nên sự tranh cãi xảy ra gần như hàng ngày. Tương truyền, bà từ chối mặc y phục Âu Tây để tỏ rõ bà là người Việt. Giới bác sĩ Pháp xầm xì cho rằng việc bà mặc y phục Việt sẽ làm người ta tưởng bà là chỉ là 'bà mụ miệt vườn' chứ không phải là bác sĩ sản khoa ở Pháp về! Nhưng bà vẫn đàng hoàng hãnh diện mặc y phục Việt khi làm việc và giao tiếp.
Bà cư xử với đồng nghiệp, bệnh nhân và mọi người với tinh thần bác ái, không phân biệt nam nữ, tôn trọng sự bình quyền giữa mọi người và sự bình đẳng giữa người Việt và người Pháp. Ðến năm 1966 bà gia nhập tổ chức y khoa làm nhân đạo từ trước khi tổ chức “Medecins Sans Frontière” (Bác Sĩ Không Biên Giới) ra đời. Thời kỳ diễn ra chiến tranh Việt Nam, bà hết lòng cứu chữa người bệnh, người bị thương không phân biệt chiến tuyến, không phân biệt bạn thù. Bà trở về Pháp năm 1971 và tiếp tục hành nghề y đến năm 1978 mới về hưu.
Cha bà là một trí thức Nam bộ nổi tiếng là người yêu nước, nhưng số phận bi thảm, khi được hỏi về điều này, bà nói 'đó là một sự việc của lịch sử, hãy để lịch sử phán xét". Bà đã hiến tặng biệt thự tư gia số 28 đường Testard cho Đại học Y khoa Sài Gòn (nơi đây giờ là Bảo tàng Chứng tích chiến tranh, đường Võ Văn Tần). Hai bức ảnh cách nhau 70 năm, khi Henriette 25 tuổi (chụp năm 1931) và khi bà ở tuổi 95 (chụp năm 2001). Bà mất năm 2012, cuộc đời trường thọ tận tụy với tha nhân của bà trải dài 106 năm.

✍️Kim Chi

Phát hiện đầu tượng nghi lễ cổ đại ở Amazon

Phát hiện các đầu tượng nghi lễ cổ đại và 200 công trình kiến trúc ở vùng Amazon của Peru, chúng ẩn chứa nhiều bí ẩn thú vị.


Địa điểm Ollape thuộc quận La Jalca, khu vực từng là nơi sinh sống của người Chachapoyas, còn được gọi là "Chiến binh của những đám mây", những người sống từ năm 900 đến năm 1.450 Sau Công Nguyên. Ảnh: @Pablo Solis.


Nổi tiếng với kiến trúc đá và những pháo đài trong rừng mây, người Chachapoya đã sinh sống ở vùng núi cao Andes thuộc Amazon trước khi người Inca bành trướng. Ảnh: @Pablo Solis.


Giờ đây, các nhà khảo cổ học tại vùng Amazon của Peru đã phát hiện ra các đầu tượng nghi lễ cổ đại, hai đầu chùy đá cổ, cùng với hơn 200 công trình kiến trúc cổ và một bức phù điêu hình zigzag quý hiếm. Ảnh: @Pablo Solis.


Những chiếc đầu dùi cui được chế tác tinh xảo được cho là có ý nghĩa nghi lễ, có thể liên quan đến các nghi thức hoặc biểu tượng thể hiện quyền lực. Ảnh: @Pablo Solis.


Còn bức phù điêu chạm khắc hình zigzag tinh xảo này là công trình đầu tiên thuộc loại này được tìm thấy ở khu vực Amazon. Ảnh: @Pablo Solis.


Quy mô và mật độ dày đặc của hơn 200 công trình cho thấy, Ollape từng đóng vai trò vừa là trung tâm nghi lễ vừa là trung tâm dân cư, hỗ trợ một lượng dân cư đáng kể tham gia vào đời sống tôn giáo, hành chính và sinh hoạt gia đình. Ảnh: @Pablo Solis.


Nhà khảo cổ học trưởng Pablo Solis cho biết, phát hiện này mang đến cái nhìn quan trọng về một xã hội mà các truyền thống văn hóa của người Chachapoyas phần lớn vẫn chưa được ghi chép lại. Ảnh: @Pablo Solis.


Mực nước biển toàn cầu có thể cao hơn nhiều so với ước tính trước đây

VTV.vn - Nghiên cứu mới công bố trên tạp chí khoa học Nature cho thấy mực nước biển tại nhiều khu vực ven biển trên thế giới có thể cao hơn đáng kể so với các ước tính trước đây.


(Ảnh: Earth)

Phát hiện này làm dấy lên lo ngại rằng mức độ rủi ro do nước biển dâng có thể đang bị đánh giá thấp, kéo theo nguy cơ nhiều vùng ven biển bị ngập sớm hơn dự báo.

Nước biển dâng là một trong những hệ quả rõ rệt nhất của biến đổi khí hậu do con người gây ra, đe dọa sinh kế của hàng trăm triệu người đang sinh sống tại các khu vực ven biển trên toàn cầu. Các nhà khoa học hiện ước tính mực nước biển trung bình toàn cầu có thể tăng khoảng 15 cm vào năm 2050. Tuy nhiên, theo nghiên cứu mới, các tính toán này có thể đang dựa trên một điểm xuất phát chưa chính xác.

Để dự báo tác động của nước biển dâng, nhiều nghiên cứu trước đây sử dụng các mô hình tính toán dựa trên trường hấp dẫn và chuyển động quay của Trái Đất nhằm xác định mực nước biển trung bình. Tuy nhiên, cách tiếp cận này chưa tính đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng thực tế như thủy triều, gió, dòng hải lưu, nhiệt độ và độ mặn của nước biển.

Theo Phó Giáo sư Philip Minderhoud thuộc Đại học Wageningen (Hà Lan), đồng tác giả nghiên cứu, để có kết quả chính xác hơn, các mô hình cần được kết hợp với dữ liệu quan sát thực tế từ vệ tinh - nguồn dữ liệu có khả năng đo trực tiếp độ cao của bề mặt đại dương.

Nhóm nghiên cứu đã phân tích 385 công trình khoa học được bình duyệt trong 15 năm qua liên quan đến mực nước biển dâng và các nguy cơ đối với khu vực ven biển. Kết quả cho thấy khoảng 90% nghiên cứu chủ yếu dựa trên giả định từ mô hình, thay vì sử dụng số liệu đo đạc thực tế.

Các nhà khoa học cho rằng đây là một "điểm mù về phương pháp luận", dẫn đến việc đánh giá thấp mực nước biển ven bờ cũng như quy mô dân số có thể chịu ảnh hưởng. Theo kết quả nghiên cứu, mực nước biển trung bình tại các vùng ven bờ hiện cao hơn khoảng 30 cm so với các giả định phổ biến trước đây. Tại một số khu vực như Đông Nam Á và các đảo ở Thái Bình Dương, chênh lệch này có thể lên tới khoảng 1m.

Nếu mực nước biển toàn cầu tăng thêm khoảng 1m trong tương lai - kịch bản được nhiều nghiên cứu dự báo có thể xảy ra vào cuối thế kỷ XXI - diện tích đất bị ngập có thể nhiều hơn 37% so với các ước tính hiện nay. Điều này đồng nghĩa với việc từ 77 - 132 triệu người có thể phải đối mặt với nguy cơ ngập lụt và mất nơi sinh sống.

Các chuyên gia khí hậu nhận định phát hiện này cho thấy tác động của nước biển dâng do biến đổi khí hậu có thể đã bị đánh giá thấp trong nhiều nghiên cứu trước đây. Tuy nhiên, một số nhà khoa học cũng cho rằng vấn đề này đã phần nào được nhận thức trong công tác quy hoạch tại nhiều địa phương.

Các tác giả nghiên cứu nhấn mạnh cần tiếp tục đánh giá lại mực nước biển toàn cầu cũng như mức độ rủi ro đối với các cộng đồng ven biển, nhằm giúp các chính phủ và cơ quan quản lý xây dựng các kế hoạch thích ứng với biến đổi khí hậu một cách chính xác và hiệu quả hơn trong thời gian tới.

Sưu tầm







Không có nhận xét nào:

CHÀO MỪNG QUÝ THẦY CÔ VÀ ĐỒNG MÔN TRƯỜNG HOÀNG DIỆU SÓC TRĂNG THAM QUAN, ỦNG HỘ HOANGDIEUTRUONGXUASAIGON.BLOGSPOT.COM. CHÚC THẦY CÔ VÀ ANH CHỊ EM NHIỀU SỨC KHỎE, THÀNH CÔNG TRONG CÔNG VIỆC.