Một loại quả quen thuộc và được nhiều người ưa thích, nhưng ít người biết rằng có một số quả có những bộ phận chứa 'chất kịch độc' ăn nhiều có thể tử vong.
Ảnh minh họa
Lợi ích của quả lê đối với sức khỏe:
Giàu dinh dưỡng: Lê là loại trái cây thơm ngon, được nhiều người ưa chuộng, cung cấp nhiều dưỡng chất như vitamin C, vitamin K, kali cùng các thành phần dinh dưỡng thiết yếu khác.
Tốt cho hệ tiêu hóa: Lê chứa cả chất xơ hòa tan và không hòa tan, giúp hỗ trợ hoạt động của đường ruột, duy trì tiêu hóa ổn định.
Hỗ trợ làn da: Loại quả này còn cung cấp folate, provitamin A và niacin, góp phần duy trì chức năng tế bào, hỗ trợ quá trình tái tạo và phục hồi da.
Có lợi cho tim mạch: Một số giống lê chứa anthocyanin (tạo màu đỏ) có thể hỗ trợ sức khỏe tim mạch. Trong khi đó, các hợp chất như lutein và zeaxanthin trong lê vỏ xanh cũng tốt cho mắt.
Hỗ trợ phòng ngừa bệnh: Một số nghiên cứu cho thấy các hợp chất như anthocyanin và axit cinnamic trong lê có thể góp phần giảm nguy cơ mắc một số bệnh, bao gồm ung thư phổi, dạ dày và bàng quang.
Hỗ trợ kiểm soát cân nặng: Lê có hàm lượng calo thấp, giàu nước và chất xơ, giúp tạo cảm giác no lâu, phù hợp với chế độ ăn kiểm soát cân nặng.
Lưu ý khi ăn lê:
Mặc dù tốt cho sức khỏe, khi ăn lê nên loại bỏ phần hạt. Theo một số nguồn, hạt lê khi bị nghiền nát có thể sinh ra hợp chất không có lợi cho cơ thể. Nếu tiêu thụ với lượng lớn, chất này có thể gây ra các triệu chứng như buồn nôn, chóng mặt, nặng hơn có thể ảnh hưởng đến sức khỏe.
Vì vậy, để đảm bảo an toàn, người dùng nên bỏ hạt trước khi ăn.
Ảnh minh họa.
Theo Business insider, hạt của táo và lê có khả năng chuyển thành chất độc xyanua khi bị nghiền nát. Mỗi cân hạt táo/lê chứa khoảng 700 miligram hydrogen cyanide. Nếu ăn liên tục 25 lõi táo hoặc lê, có thể tử vong do ngộ độc xyanua.
Thông tin này cũng được PGS.TS Nguyễn Duy Thịnh, Viện Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm (Đại học Bách khoa Hà Nội) từng chia sẻ với Tri Thức hạt quả táo hoặc lê đều có thể tạo thành hydrogen cyanide trong ruột.
Đáng chú ý ở liều thấp, nó gây mệt mỏi, buồn nôn, choáng váng… Còn ở liều cao, chất độc này làm rối loạn hô hấp, hạ huyết áp, đau đầu, hôn mê, thậm chí có thể dẫn tới tử vong.
Mặc dù quả lê giàu dinh dưỡng tốt cho sức khỏe khi ăn để an toàn, tốt nhất bạn nên bỏ hạt, đặc biệt khi cho trẻ nhỏ ăn, không xay lẫn hạt khi làm nước ép trái cây, sinh tố.
Còn theo lương y Đa khoa Bùi Hồng Minh, người ta vẫn dùng hạt táo tàu (táo Trung Quốc) để chế thành thuốc chống mất ngủ, tuy nhiên khi chế thuốc phải có cách thức riêng. Với người bình thường, không nên ăn, nuốt hạt các loại quả này.
Những loại trái cây tuyệt đối không dùng ngay sau bữa ăn
Trái cây thường được xem là lựa chọn tráng miệng lành mạnh sau bữa ăn. Tuy nhiên, không phải loại quả nào cũng thích hợp dùng ngay khi vừa ăn no. Một số loại trái cây nếu ăn sai thời điểm có thể khiến dạ dày phải hoạt động nhiều hơn, thậm chí gây đầy bụng hoặc khó tiêu.
Trái cây – "người bạn vàng" cho sức khỏe
Các chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo rằng mỗi người nên bổ sung từ 200-300g trái cây mỗi ngày. Trái cây chứa nhiều loại vitamin thiết yếu như A, C, E, nhóm B, cùng các khoáng chất như kali, magie, sắt... Không chỉ vậy, lượng chất xơ trong trái cây cũng giúp cải thiện chức năng tiêu hóa, hạn chế táo bón, hỗ trợ kiểm soát cân nặng và giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch.
Ảnh minh họa.
Một số loại trái cây như cam, bưởi, kiwi, dâu tây, lựu còn có hàm lượng chất chống oxy hóa cao, góp phần làm chậm quá trình lão hóa tế bào, giảm viêm và tăng cường miễn dịch. Vì vậy, đưa trái cây vào khẩu phần ăn hàng ngày là một trong những cách đơn giản và tự nhiên để bảo vệ sức khỏe lâu dài.
Ăn trái cây không đúng thời điểm, lợi bất cập hại
Mặc dù tốt cho sức khỏe, nhưng ăn trái cây không đúng thời điểm có thể gây ra một số tác dụng phụ không mong muốn. Nhiều người có thói quen ăn trái cây ngay sau bữa cơm để "tráng miệng", tuy nhiên theo các chuyên gia, điều này có thể ảnh hưởng tới quá trình tiêu hóa.
Ảnh minh họa.
Lý do là vì sau bữa ăn chính, dạ dày đang bận tiêu hóa thức ăn, nếu tiếp tục đưa thêm trái cây vào lúc này sẽ làm tăng gánh nặng cho hệ tiêu hóa. Trái cây có thể bị giữ lại lâu hơn trong dạ dày, gây lên men, sinh hơi, đầy bụng, khó tiêu. Đặc biệt với những người có tiền sử trào ngược dạ dày, thực quản hoặc viêm loét dạ dày, việc ăn trái cây ngay sau bữa cơm có thể khiến tình trạng bệnh nặng hơn.
Ngoài ra, một số loại trái cây được khuyến cáo nên hạn chế ăn ngay sau khi ăn no vì chúng có thể gây khó chịu cho dạ dày như:
Chuối: Là loại trái cây quen thuộc, giàu kali và chất xơ nên thường được nhiều người lựa chọn để ăn tráng miệng sau bữa cơm. Tuy nhiên, việc ăn chuối ngay sau khi ăn no có thể khiến dạ dày phải hoạt động nhiều hơn để tiêu hóa.
Trong một số trường hợp, điều này có thể khiến nhiều người cảm thấy đầy bụng hoặc khó chịu. Những người có hệ tiêu hóa nhạy cảm càng nên chú ý thời điểm ăn loại quả này.
Hồng: Là loại trái cây được nhiều người yêu thích nhờ vị ngọt và hàm lượng dinh dưỡng cao. Tuy nhiên, nếu ăn hồng ngay sau bữa ăn, đặc biệt khi dạ dày đang chứa nhiều thức ăn giàu protein, có thể gây khó tiêu.
Một số chuyên gia dinh dưỡng cho rằng chất tannin trong quả hồng có thể kết hợp với protein và axit dạ dày, tạo thành khối khó tiêu, gây cảm giác nặng bụng.
Dứa: Là loại quả có vị chua ngọt đặc trưng và chứa nhiều vitamin C. Tuy nhiên, nếu ăn dứa ngay sau bữa ăn có thể khiến một số người cảm thấy cồn cào hoặc khó chịu ở dạ dày.
Nguyên nhân là do dứa chứa axit tự nhiên và enzyme bromelain, có thể ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa nếu dùng không đúng thời điểm.
Dưa hấu: Có hàm lượng nước cao nên nhiều người thích ăn ngay sau bữa ăn để giải khát. Tuy nhiên, việc ăn dưa hấu khi dạ dày đang đầy có thể làm loãng dịch tiêu hóa, khiến quá trình tiêu hóa thức ăn diễn ra chậm hơn. Điều này đôi khi dẫn đến cảm giác đầy hơi hoặc khó tiêu ở một số người.
Nên ăn trái cây vào thời điểm nào?
Các chuyên gia dinh dưỡng thường khuyến nghị nên ăn trái cây sau bữa ăn ít nhất khoảng 30 phút đến 1 giờ hoặc dùng vào giữa các bữa chính. Đây là thời điểm cơ thể dễ hấp thu vitamin và dưỡng chất có trong trái cây hơn.
Bên cạnh đó, mỗi người cũng nên lựa chọn loại trái cây phù hợp với tình trạng sức khỏe của mình để đảm bảo mang lại lợi ích tốt nhất cho cơ thể.
Lưu ý đặc biệt với một số nhóm người
Đối với những người mắc bệnh tiểu đường, việc lựa chọn loại trái cây và thời điểm ăn là vô cùng quan trọng. Nên ưu tiên trái cây tươi, ít ngọt như bưởi, dâu tây, táo xanh, lê, thanh long... Ăn với lượng vừa phải, chia nhỏ nhiều lần trong ngày và tuyệt đối tránh trái cây sấy khô, nước ép đóng hộp vì có lượng đường cao.
Phụ nữ mang thai có thể ăn trái cây vào buổi sáng hoặc giữa các bữa ăn để bổ sung vitamin và chất xơ. Tuy nhiên nên tránh các loại trái cây chứa bromelain (như dứa chưa chín) trong 3 tháng đầu thai kỳ, vì có thể gây co bóp tử cung. Ngoài ra, cần rửa sạch kỹ trái cây, tránh ăn loại trái cây ngâm thuốc bảo quản hoặc để quá lâu.
Người mắc bệnh thận cần thận trọng với các loại trái cây chứa nhiều kali như chuối, cam, dưa hấu... vì có thể làm tăng kali máu. Cần tham khảo ý kiến bác sĩ dinh dưỡng để được chỉ định cụ thể tùy theo mức độ suy thận.
Như vậy, trái cây là nguồn thực phẩm quý giá nhưng để tận dụng tối đa lợi ích, việc lựa chọn thời điểm ăn đóng vai trò rất quan trọng. Ăn trái cây đúng cách – đúng lúc – đúng loại không chỉ giúp tăng hiệu quả dinh dưỡng mà còn tránh được những rủi ro không đáng có cho sức khỏe. Đặc biệt với những người có bệnh nền, hãy lắng nghe cơ thể và tham khảo ý kiến chuyên gia dinh dưỡng để có lựa chọn phù hợp nhất.
3 dấu hiệu ở mắt có thể cảnh báo mỡ máu cao từ sớm
U vàng ở mí mắt, vòng trắng quanh tròng đen hay cảm giác mờ mắt thoáng qua có thể là dấu hiệu cho thấy một người có chỉ số mỡ máu cao.
Bà Trương (52 tuổi, Trung Quốc) thường xuyên tham gia khiêu vũ, không có biểu hiện bất thường về sức khỏe. Tuy nhiên, khoảng nửa năm gần đây, bà bắt đầu thấy mắt có biểu hiện lạ: buổi sáng mí nhức mỏi, phải lau bằng nước ấm mới dễ chịu.
Soi gương kỹ hơn, bà nhận ra rìa tròng đen xuất hiện một vòng trắng xám, giống như đeo kính áp tròng. Nghĩ biểu hiện trên do lão hóa, bà không để ý. Cho đến một lần sau khi tập thể dục, bà đột nhiên thấy trước mắt tối đen trong vài giây.
Kết quả khám cho thấy cholesterol (mỡ trong máu) toàn phần của bà Trương lên tới 7,2 mmol/L, LDL 5,8 mmol/L - cao hơn nhiều so với mức bình thường. Bác sĩ cho biết những dấu hiệu ở mắt chính là cảnh báo sớm của tình trạng mỡ máu cao.
Mọi người nên đi kiểm tra sức khỏe khi mắt có một số dấu hiệu bất thường như u vàng ở mí mắt, nhìn mờ.. Ảnh minh họa: AI
Khi mỡ máu tăng, máu trở nên “đặc” hơn, lưu thông chậm lại. Do mạch máu ở mắt rất nhỏ và nằm gần bề mặt, những thay đổi này thường biểu hiện sớm. Theo nghiên cứu công bố trên tạp chí Nhãn khoa Anh, khoảng 60% người bị rối loạn lipid máu giai đoạn đầu chưa có triệu chứng toàn thân nhưng đã có bất thường ở mắt.
U vàng mí mắt
Ở người có chỉ số mỡ máu cao, u vàng thường xuất hiện ở góc trong của mí trên, màu vàng hoặc cam, mềm, phẳng, không đau, không ngứa.
Đây là hậu quả của tình trạng cholesterol “xấu” (LDL) tăng cao trong máu. Một phần LDL bị oxy hóa tích tụ dưới da, tạo thành các mảng nhỏ. Theo nghiên cứu đăng trên tạp chí của Viện Hàn lâm Da liễu Mỹ, người có u vàng mí mắt nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao hơn, ngay cả khi các chỉ số mỡ máu chưa quá cao tại thời điểm kiểm tra.
Vòng trắng quanh tròng đen
Nhiều người lớn tuổi có thể xuất hiện vòng trắng xám bao quanh tròng đen, rộng 1-2mm do lão hóa. Nhưng nếu biểu hiện này xuất hiện sớm, đặc biệt dưới 50 tuổi, bạn cần đề phòng.
Nguyên nhân là cholesterol lắng đọng tại vùng rìa giác mạc, nơi có nhiều mao mạch. Một nghiên cứu đăng trên tạp chí Tim mạch Mỹ cho thấy những người có “vòng mỡ giác mạc” nguy cơ mắc bệnh mạch vành cao gấp khoảng 2-3 lần so với người không có dấu hiệu này.
Mờ mắt thoáng qua
Dấu hiệu trên thường bị bỏ qua vì chỉ kéo dài vài giây đến vài phút. Người bệnh có thể thấy tối sầm, nhìn méo hoặc mất một phần tầm nhìn.
Nguyên nhân là máu đặc và lưu thông kém, dễ gây tắc nghẽn hoặc co thắt mạch máu võng mạc, dẫn đến thiếu máu tạm thời. Theo Hiệp hội Tim mạch Mỹ, những cơn rối loạn thị giác thoáng qua có thể là dấu hiệu cảnh báo sớm của đột quỵ, đặc biệt ở người có yếu tố nguy cơ như mỡ máu cao.
Các chuyên gia nhấn mạnh, những thay đổi nhỏ ở mắt không nên bị xem nhẹ. Chúng có thể xuất hiện sớm hơn nhiều so với các triệu chứng như đau ngực hay chóng mặt. Việc chú ý đến các dấu hiệu này giúp phát hiện sớm rối loạn mỡ máu, từ đó giảm nguy cơ biến chứng nguy hiểm liên quan đến tim mạch và não.
2 nhóm thực phẩm càng ăn đúng càng giảm mỡ máu
Một hiểu lầm phổ biến là người bị mỡ máu cao phải kiêng tuyệt đối chất béo. Thực tế, điều quan trọng không nằm ở việc kiêng chất béo mà là thay thế chất béo 'xấu' bằng chất béo 'tốt'.
Rối loạn mỡ máu là tình trạng chỉ số cholesterol toàn phần, triglyceride và cholesterol "xấu" (LDL) tăng cao, trong khi cholesterol "tốt" (HDL) lại giảm. Đây chính là thủ phạm thầm lặng gây ra các biến chứng nguy hiểm như xơ vữa động mạch, nhồi máu cơ tim và đột quỵ.
Hiểu đúng về rối loạn mỡ máu và vai trò của chất béo
Theo các chuyên gia y tế, rối loạn mỡ máu do nhiều nguyên nhân, phần lớn các trường hợp rối loạn mỡ máu thứ phát bắt nguồn từ những thói quen thiếu khoa học trong sinh hoạt hàng ngày như tiêu thụ quá mức calo, chất béo bão hòa và chất béo chuyển hóa; sử dụng nhiều đồ uống có cồn gây tổn thương gan, trực tiếp ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa lipid.
Tuy nhiên, việc kiêng hoàn toàn chất béo không phải là giải pháp giảm mỡ máu mà còn không tốt cho sức khỏe tổng thể vì chất béo là nguồn cung cấp năng lượng giúp duy trì hoạt động của cơ thể và là dung môi hòa tan, vận chuyển các loại vitamin quan trọng như A, D, E, K.
Nguồn thực phẩm giàu chất béo lành mạnh có lợi cho người bị rối loạn mỡ máu.
Ngoài ra, khi cắt bỏ cả những chất béo lành mạnh, nồng độ HDL sẽ giảm xuống làm mất đi cơ chế bảo vệ mạch máu của cơ thể và thúc đẩy tình trạng viêm mạn tính, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lý về tim mạch.
Do đó, thay vì kiêng hoàn toàn chất béo, người bị rối loạn mỡ máu nên thay thế chất béo có hại bằng các nguồn chất béo lành mạnh để đáp ứng nhu cầu chất béo cho cơ thể.
Theo ThS.BS. Lê Thị Hải, nguyên Giám đốc Trung tâm Khám tư vấn dinh dưỡng, Viện Dinh dưỡng quốc gia, đối với người đang bị mỡ máu cao điều quan trọng là nên chọn ăn chất béo có lợi cho sức khỏe như acid oleic có tác dụng góp phần làm giảm cholesterol toàn phần, cholesterol xấu và hạn chế giảm cholesterol tốt.
Loại acid béo này có nhiều trong các loại dầu thực vật như: dầu ô liu, dầu lạc, dầu hạt cải và dầu đậu nành. Hoặc các acid béo omega-3 có trong các loại cá biển (cá hồi, cá thu, cá trích…); các loại hạt (hạt điều, hạt lanh, hạt mắc ca)…
Nhóm thực phẩm giàu chất béo "tốt" cho người bị rối loạn mỡ máu
Nhóm thực phẩm giàu acid oleic
Một số loại dầu thực vật như dầu hạt cải, dầu đậu nành và hướng dương, nhất là dầu ô liu là nguồn cung cấp acid oleic (một loại acid béo không bão hòa đơn) đậm đặc có lợi cho người bị rối loạn mỡ máu.
Hàm lượng acid oleic cao trong dầu ô liu giúp giảm nồng độ cholesterol xấu trong máu mà không làm ảnh hưởng đến các thành phần mỡ máu cần thiết khác. Đồng thời giúp duy trì, thậm chí tăng nhẹ nồng độ HDL.
Cá béo là nguồn cung cấp acid béo omega-3 tốt nhất.
Các hợp chất chống oxy hóa (polyphenol) trong dầu ô liu ngăn chặn quá trình oxy hóa LDL. Khi LDL không bị oxy hóa, nó ít có khả năng bám vào thành mạch để tạo thành các mảng xơ vữa.
Dầu ô liu giúp các mạch máu đàn hồi tốt hơn, hỗ trợ kiểm soát huyết áp, một yếu tố nguy cơ thường đi kèm với mỡ máu cao.
Cách dùng dầu ô liu tốt nhất: Nên dùng dầu ô liu để thay thế mỡ động vật hoặc bơ khi nấu nướng. Dùng để trộn salad hoặc thêm vào thức ăn sau khi nấu chín để bảo toàn cấu trúc acid béo.
Nhóm thực phẩm giàu acid béo omega-3
Acid béo omega-3 rất hiệu quả trong việc bảo vệ thành mạch và giảm mỡ máu. Omega-3 (bao gồm EPA và DHA) giúp ức chế sản xuất mỡ tại gan, từ đó hạ thấp lượng mỡ trung tính lưu thông trong máu.
Tác dụng chống viêm mạnh của omega-3 ngăn chặn sự sản sinh các chất gây viêm, giúp bảo vệ lớp nội mạc mạch máu, hạn chế nguy cơ hình thành cục máu đông gây nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ.
Nguồn thực phẩm giàu omega-3 tốt nhất là các loại cá béo (cá hồi, cá thu, cá trích, cá mòi, cá cơm…). Nên ăn cá ít nhất 2 lần/tuần.
Ngoài ra omega-3 còn có trong hạt chia, hạt óc chó, hạt lanh… có thể dùng làm món ăn nhẹ hoặc xay cùng sinh tố. Lưu ý chỉ nên ăn khoảng 1 nắm nhỏ (30 g) các loại hạt mỗi lần vì chúng rất giàu năng lượng.
Theo Thu Phương / Sức Khỏe & Đời Sống