Sau 1 triệu năm nữa, động vật trên Trái Đất sẽ trông như thế nào?
Không ai có thể biết chính xác tương lai của sự sống, nhưng khoa học tiến hóa cho phép chúng ta hình dung xu hướng có thể định hình động vật một triệu năm tới.
Ảnh: eldefinido
Nếu xu hướng nóng lên toàn cầu tiếp tục, nhiều loài có thể phát triển các đặc điểm giúp tản nhiệt hiệu quả hơn. Theo quy luật sinh thái học đã được quan sát ở nhiều nhóm động vật, cơ thể nhỏ hơn, tai lớn hơn hoặc chân dài hơn có thể trở nên phổ biến tại những vùng khí hậu nóng. Ngược lại, các loài sống ở vùng cực sẽ phải thích nghi với môi trường ngày càng ít băng hoặc di cư đến những khu vực lạnh hơn.
Ảnh: deviantart
Các thành phố cũng đang trở thành "động lực tiến hóa" mới. Nhiều loài chim, chuột, côn trùng và cáo đã thích nghi với môi trường đô thị bằng cách thay đổi tập tính, chế độ ăn và thậm chí cả hình thái. Sau một triệu năm, nếu các đô thị vẫn tồn tại, rất có thể sẽ xuất hiện những quần thể động vật gần như chỉ sống trong môi trường nhân tạo, với khả năng tận dụng ánh sáng, tiếng ồn và nguồn thức ăn do con người tạo ra.
Ảnh: ielts
Ở đại dương, quá trình axit hóa và nhiệt độ nước tăng có thể tạo áp lực mạnh lên các loài sinh vật biển. Những loài có khả năng chịu nhiệt tốt hoặc sinh sản nhanh sẽ có lợi thế hơn, trong khi nhiều rạn san hô và các sinh vật phụ thuộc vào chúng có thể biến mất hoặc thay đổi hoàn toàn.
Một xu hướng khác là sự tiến hóa ngày càng nhanh dưới tác động của con người. Việc sử dụng thuốc trừ sâu, kháng sinh hay hoạt động săn bắt đã tạo ra áp lực chọn lọc mạnh, khiến nhiều quần thể thay đổi chỉ sau vài chục thế hệ. Trong một triệu năm, những áp lực này có thể tạo ra các loài hoàn toàn mới nếu chúng tồn tại đủ lâu và bị cách ly về sinh sản.
Tuy nhiên, cũng cần nhớ rằng tiến hóa không có "mục tiêu" tạo ra những sinh vật thông minh hơn hay lớn hơn. Những đặc điểm được giữ lại đơn giản là vì chúng giúp cá thể sinh tồn và sinh sản hiệu quả hơn trong môi trường cụ thể. Nếu môi trường thay đổi theo hướng khác, quá trình tiến hóa cũng sẽ rẽ sang những con đường hoàn toàn khác.
Vì vậy, bức tranh về động vật sau một triệu năm không phải là thế giới của những "quái thú tương lai", mà là kết quả của vô số biến đổi nhỏ tích lũy qua hàng trăm nghìn thế hệ. Điều chắc chắn nhất là sự sống sẽ tiếp tục thích nghi, và nhiều loài trong tương lai có thể sẽ khác xa những gì chúng ta đang thấy ngày nay.
Thanh Bình Tổng hợp
Cần thủ câu được cá chép đầu to nặng gần 54kg, tự phá kỷ lục của chính mình
Một hướng dẫn viên câu cá tại bang Oklahoma (Mỹ) vừa bắt được con cá chép đầu to nặng khoảng 53,8kg và dài gần 1,5m tại hồ Grand Lake. Thành tích này vượt qua kỷ lục mà chính anh từng lập tại cùng địa điểm cách đây hai năm.
Hướng dẫn viên câu cá Bryan Baker, đến từ bang Oklahoma (Mỹ), vừa tự phá kỷ lục của chính mình khi bắt được một con cá chép đầu to nặng 118 pound 10 ounce (khoảng 53,8kg) tại hồ Grand Lake. Trước đó hai năm, cũng tại khu vực này, anh từng câu được một con nặng 118 pound 3 ounce.
Baker vốn chủ yếu săn cá tầm mũi chèo, nhưng khi điều kiện thuận lợi, anh sẽ chuyển sang tìm cá chép đầu to - loài cá xâm lấn xuất hiện tại hồ. Để xác định vị trí của chúng, anh sử dụng thiết bị sonar hướng về phía trước nhằm dò tìm những cá thể đang bơi ở vùng nước sâu và tối.
Cần thủ câu được cá chép đầu to nặng gần 54kg, tự phá kỷ lục của chính mình. Ảnh: Wired2fish
Khi phát hiện một con cá dài gần 1,5m, Baker quyết định sử dụng kỹ thuật snagging để đưa nó lên bờ. Đây là phương pháp móc lưỡi câu trực tiếp vào thân cá thay vì chờ cá đớp mồi và hiện được khuyến khích trong việc loại bỏ loài cá xâm lấn này.
Với trọng lượng gần 54kg, con cá vừa bắt được được cho là cá chép đầu to lớn nhất từng được câu bằng cần. Tuy nhiên, thành tích của Baker vẫn không đủ điều kiện để được Hiệp hội Câu cá Thể thao Quốc tế (International Game Fish Association - IGFA) công nhận là kỷ lục thế giới.
Lý do là bởi kỹ thuật snagging không được IGFA xem là phương pháp câu cá thông thường trong hệ thống xác lập kỷ lục của tổ chức.
Theo Baker, anh thường xuyên phát hiện những con cá chép đầu to có kích thước lớn tại một khu vực nhỏ của hồ Grand Lake, gần thành phố Miami, bang Oklahoma. Chúng thường xuất hiện ở độ sâu khoảng 20 feet (gần 6m) hoặc nông hơn.
Sau khi được đưa lên bờ, những con cá này không bị bỏ đi mà được chuyển cho các nhà sinh vật học của bang phục vụ công tác nghiên cứu. Các chuyên gia sẽ phân tích xương tai để xác định tuổi và vòng đời của cá, từ đó bổ sung dữ liệu cho các nghiên cứu nghề cá cũng như hỗ trợ hoạt động quản lý loài xâm lấn trong khu vực.
Phương Anh (Theo Wired2fish)
Năm 1929, một bác sĩ trẻ người Đức đã luồn một ống dài 65 cm qua tĩnh mạch ở cánh tay mình rồi đưa thẳng vào tim, sau đó bình thản đi bộ đến phòng chụp X-quang để chứng minh rằng anh vẫn còn sống. Thí nghiệm ấy cuối cùng đã mang về cho anh một giải Nobel.
Fb Hoàng Phương Phúc
Tên ông là Werner Forssmann.
Khi đó ông mới 25 tuổi, là bác sĩ nội trú ngoại khoa đang hoàn tất chương trình đào tạo tại một bệnh viện nhỏ bên ngoài Berlin.
Năm 1929, mọi bác sĩ đều tin vào cùng một điều về trái tim con người.
Chỉ cần chạm vào tim bằng bất kỳ vật lạ nào, dù là kim hay dây dẫn, tim sẽ lập tức ngừng đập. Các bác sĩ phẫu thuật vẫn mổ dạ dày, xương hay phổi.
Nhưng không ai dám động đến tim, vì người ta cho rằng bất cứ vật gì đi vào tim đều sẽ gây ngừng tim ngay lập tức.
Forssmann đọc được một số nghiên cứu khiến ông nghi ngờ điều đó. Nhiều thập kỷ trước, nhà sinh lý học người Pháp Claude Bernard từng đưa một ống thủy tinh qua tĩnh mạch cổ của một con ngựa vào tận tim để đo nhiệt độ. Con ngựa vẫn sống.
Hai nhà nghiên cứu người Pháp khác tiếp tục lặp lại thí nghiệm này, thậm chí còn đo được áp lực bên trong tim của con ngựa khi nó vẫn đứng và hô hấp bình thường.
Nếu làm được trên ngựa, Forssmann cho rằng chẳng có lý do gì lại không thể làm trên con người.
Ông muốn sử dụng kỹ thuật này để đưa thuốc trực tiếp vào trái tim đang suy yếu thay vì phải chờ thuốc tiêm theo dòng máu lưu thông đến đó.
Ông xin phép người giám sát của mình, bác sĩ Schneider, được thử nghiệm trên một bệnh nhân.
Schneider từ chối.
Quá nguy hiểm. Quá kỳ quặc. Không thể chấp nhận.
Vì thế, Forssmann quyết định thử trên chính mình.
Ông cần vào phòng dụng cụ nên nhờ một y tá tên Gerda Ditzen giúp đỡ. Cô đồng ý, nhưng với một điều kiện: ông phải hứa sẽ tiến hành thí nghiệm trên cô chứ không phải trên bản thân.
Ông đã nói dối.
Ông buộc cô lên bàn mổ, gây tê cánh tay cô và giả vờ chuẩn bị rạch da.
Trong lúc Ditzen tin rằng mình là người được thí nghiệm, Forssmann lặng lẽ gây tê chính cánh tay mình rồi rạch mở một tĩnh mạch ở mặt trong khuỷu tay.
Khi Ditzen nhận ra chuyện gì đang xảy ra thì đã quá muộn.
Chiếc ống thông – thực chất chỉ là một ống cao su mỏng vốn được thiết kế để dẫn lưu nước tiểu từ bàng quang – đã được đưa vào cơ thể ông.
Forssmann tự luồn ống từng chút một, quan sát nó biến mất dần trong cánh tay, vừa làm vừa ước lượng khoảng cách dựa trên kiến thức giải phẫu học đã học thuộc.
Sau đó ông bảo Ditzen gọi phòng X-quang.
Hai người cùng đi bộ đến đó, trong khi bên trong mạch máu của Forssmann vẫn có tới 65 cm ống thông. Trên đường, họ còn phải leo lên một cầu thang.
Dưới máy soi huỳnh quang, ông tiếp tục đẩy ống thông sâu hơn, vừa quan sát vị trí của nó thông qua chiếc gương mà một y tá giơ trước màn hình.
Chiếc ống đi qua vai, xuống lồng ngực rồi dừng lại trong chính trái tim của ông, tại tâm nhĩ phải.
Bức phim X-quang chụp ngày hôm đó trở thành bức ảnh đầu tiên trong lịch sử ghi lại một vật thể lạ nằm bên trong trái tim của một con người còn sống.
Và người xuất hiện trong bức ảnh cũng chính là người đã tự đưa chiếc ống ấy vào tim mình.
Schneider phát hiện ra và nổi giận.
Ông chỉ trích Forssmann đã coi thường mạng sống của chính mình một cách liều lĩnh.
Nhưng khi xem tấm phim X-quang, cơn giận dần biến thành sự kinh ngạc.
Schneider cho phép Forssmann thử lại, lần này trên một bệnh nhân đang hấp hối, bằng cách đưa thuốc trực tiếp vào tim.
Tình trạng của bệnh nhân đã cải thiện.
Forssmann công bố kết quả vào tháng 11 năm đó.
Ông nghĩ nghiên cứu này sẽ mở ra cánh cửa cho sự nghiệp.
Thực tế, nó gần như chấm dứt sự nghiệp của ông.
Ông nhận một vị trí không lương tại Berlin dưới quyền Ferdinand Sauerbruch, một trong những bác sĩ phẫu thuật nổi tiếng nhất nước Đức.
Ngay khi đọc những gì Forssmann đã làm với chính mình, Sauerbruch lập tức loại ông khỏi bệnh viện, cho rằng hành động ấy không xứng đáng với một cơ sở y khoa nghiêm túc.
Forssmann bị đẩy hoàn toàn ra khỏi lĩnh vực tim mạch.
Hai mươi năm tiếp theo, ông làm bác sĩ tiết niệu tại thị trấn nhỏ Bad Kreuznach, cách xa thế giới nghiên cứu mà chính mình từng mở ra, và gần như bị ngành y lãng quên.
Tuy nhiên, hai bác sĩ ở New York thì không quên ông.
André Cournand và Dickinson Richards, làm việc tại Bệnh viện Bellevue thuộc Đại học Columbia, đã đọc bài báo của Forssmann nhiều năm sau đó.
Họ xây dựng cả một chương trình nghiên cứu dựa trên ý tưởng ấy, sử dụng ống thông để đi vào tim bệnh nhân nhằm đo lưu lượng máu và chẩn đoán bệnh theo cách chưa từng có ai thực hiện khi trái tim vẫn đang đập trong cơ thể người sống.
Mỗi lần công bố kết quả nghiên cứu, Cournand đều mở đầu bằng lời ghi nhận người bác sĩ Đức đã làm điều đó trước tiên, một mình, không được cấp phép và cũng chẳng có bất kỳ phương án dự phòng nào.
Năm 1956, Ủy ban Nobel tại Stockholm công bố Giải Nobel Sinh lý học hoặc Y học.
Giải thưởng được trao cho ba người:
André Cournand
Dickinson Richards
Werner Forssmann
Khi ấy, Forssmann đã không còn cầm đến một chiếc ống thông nào trong hơn hai mươi năm.
Ông chỉ là một bác sĩ tiết niệu ở một thị trấn nhỏ, hoàn toàn đứng ngoài thế giới nghiên cứu tim mạch.
Thông báo ấy khiến gần như tất cả mọi người bất ngờ.
Ngay cả chính Forssmann.
Kỹ thuật mà ông bí mật tạo ra, bằng cách lừa một y tá và sử dụng một chiếc ống vốn dành cho bàng quang, ngày nay vẫn là nền tảng của các thủ thuật tim mạch hiện đại.
Mỗi lần bác sĩ luồn ống thông qua động mạch để thông mạch bị tắc, đặt stent hay sửa van tim mà không cần mở lồng ngực, họ đều đang sử dụng chính nguyên lý ấy.
Mọi ca thông tim được thực hiện trên thế giới ngày nay đều có thể lần ngược về một buổi chiều ở thị trấn Eberswalde, khi một bác sĩ nội trú 25 tuổi quyết định rằng cách tốt nhất để chứng minh một ý tưởng là đúng chính là đưa nó vào cơ thể mình, rồi bình thản bước lên một cầu thang để xem liệu mình có còn sống hay không.
Sưu tầm