Các bạn đã đọc nhiều tài liệu về các tổ chức Cô Nhi Viện, nơi nuôi nấng những trẻ sơ sinh và các em nhỏ không mẹ không cha.
Xin giới thiệu một Cô Nhi Viện đã có trên đất nước Việt Nam hơn một trăm năm , thiết lập trên một cù lao tại Miền Tây Nam Phần đó là Cô Nhi Viện Cù Lao Giêng .
Cù lao Giêng là một cù lao nằm ở giữa sông Tiền ( trên bản đồ Long Xuyên là fleuve Antérieur năm 1886 . Sau khi chiếm hết được các tỉnh Nam Kỳ vào năm 1867, thực dân Pháp dần xóa bỏ tên gọi gọi tỉnh An Giang cùng hệ thống hành chính phủ huyện cũ thời nhà Nguyễn, , đồng thời đặt ra các hạt Thanh tra. ( arrondissement ) Cù lao Giêng thuộc tổng An Bình lúc này thuộc hạt Thanh tra Long Xuyên ( Arrondessement de Long Xuyen ) xem bản đồ Long Xuyên.
Dòng Chúa Quan Phòng Portieux được khai sinh ngày 14 tháng 01 năm 1762 tại làng Vigy nước Pháp. Từ lâu, các nữ tu Dòng Chúa Quan Phòng ở Portieux đã nghĩ đến việc ra đi đến vùng Viễn Đông. Về mặt Giáo hội, vào năm 1850, địa phận Nam Vang được tách khỏi địa phận Tây Đàng Trong với Giám Mục đầu tiên là Đức Cha Michel. Đến năm 1864, ngài được gọi về Tòa Giám Mục Saigon trao quyền lại cho cha Aussoleil. Khoảng năm 1868, một phần đất của địa phận Saigon lại sáp nhập vào địa phận Nam Vang. Đó là hai tỉnh miền Tây: Hà Tiên và Châu Đốc.
Sau chiến tranh, vào năm 1873, Cha bề trên Lãnh địa truyền giáo Campuchia, cha Louis Aussoleil, xây cất một cô nhi viện tại Cù Lao Giêng, muốn nhanh chóng có ngay những nữ tu để chăm lo cho 40 trẻ em mà cơ sở ngài sẽ có thể đón nhận được. Với sự đồng thuận của các cha đồng hội, ngài đã cử một trong các cha thừa sai, cha Edme Silvestre đi tìm kiếm những nữ tu bên Pháp.
Ngày 13/03/1875, một bức thư chung của các đấng bề trên Dòng tại Portieux được gởi cho toàn thể Hội Dòng yêu cầu những ai tự nguyện nếu ước muốn hiến thân cho công cuộc truyền giáo, thì hãy biểu lộ ý muốn của mình. Hơn 150 nữ tu đã tình nguyện ra đi. Sự lựa chọn của các đấng bề trên đã nhằm vào các nữ tu Isabelle Robert 40 tuổi, nữ tu Eusèbe Lamotte 32 tuổi, nữ tu Sylvère Miss 27 tuổi, nữ tu Romuald Bosredon 28 tuổi, nữ tu Elisa Beauzée 29 tuổi và nữ tu Anatolie Lambert 29 tuổi. Nữ tu Isabelle được bổ nhiệm làm bề trên.
Và ngày 29/11/1875, các nữ thừa sai đã rời khỏi Portieux và các bề trên, không khỏi băn khoăn, tiễn đưa các vị truyền giáo và đồng hành với họ trong bước đầu cuộc hành trình.
Sáu nữ tu người Pháp đầu tiên đến Cù Lao Giêng, ngày 12 tháng Giêng năm 1876.
Ngày thứ hai 10/01/1876, các nữ tu đã đến Sài Gòn, nơi có hai nữ tu dòng thánh Phaolô thành Chartres, cha Colson và cha Grosgeorge đang chờ đón họ. Trước tiên các nữ tu đi đến dòng các nữ tu Thánh Phaolô, nơi đây họ được bà bề trên Benjamin đón tiếp rất thân tình và rất sẵn sàng giúp đỡ họ.
Các nữ tu không muốn lấy thời gian vài ngày để nghỉ ngơi tại Sài gòn. Họ muốn đi tức khắc để đến Cù Lao Giêng là mục tiêu của cuộc hành trình. Nên ngay khuya hôm đó, các chị đã lên một chiếc pháo thuyền, rồi sau đó một chiếc ghe đưa họ đến Cù Lao Giêng vào lúc 1 giờ sáng ngày 12/01/1876. Các chị được cha Cordier và các linh mục, đang chuẩn bị trở về họ đạo sau khi vừa tĩnh tâm ở Cù Lao Giêng, ra tiếp đón cùng một đám đông dân làng đang chờ đợi họ. Cha Grosgeorge là cha linh hướng của các chị ở Cù Lao Giêng, đã hân hoan tiếp đón các nữ tu trong những điều kiện tốt nhất.
Có 3 nữ tu thuộc dòng Mến Thánh Giá, đến giúp các chị và dạy các chị học tiếng bản xứ. Ba tuần sau khi đến Cù lao Giêng, các chị đã phải bắt tay ngay vào việc : nhận 14 trẻ mồ côi. Thế là bắt đầu Ấu Nhi viện Cù lao Giêng. Để đáp ứng nhu cầu cho Ấu Nhi viện thì phải có Cô Nhi viện. Từ đó phát sinh ra trường Sơ cấp, trường Dạy Nghề để chuẩn bị tương lai cho các em. Nhu cầu phát sinh nhu cầu và rồi lại phải có một Bệnh viện, một Chẩn Y viện, một nhà Bảo Sanh và một trại cùi cũng trong khuôn viên Cù lao Giêng.
Là con của cha Gioan Martinô Moye, sáu nữ tu đầu tiên rất ưu tư huấn luyện “cán bộ tại chỗ” để tiếp nối sự nghiệp của mình. Sau ba năm đến Việt Nam, đã có khoảng 10 thiếu nữ xin vào Dòng. Và một Tập viện được khai mở để đào tạo nữ tu bản xứ, ngày khai trương Tập viện đã được ấn định là ngày 24/05/1880.
Và Dòng phát triển mạnh, vươn mình ra xa hơn Cù Lao Giêng: Ấu Nhi viện và Cô Nhi viện Châu Đốc, Ấu Nhi viện, Cô Nhi viện và Cứu Tế viện ở Sa Đéc, đến tận thủ đô Nam Vang, sang bệnh viện Sóc Trăng với một ký túc xá cho nữ học sinh và một Cô Nhi viện; ngoài ra, các Nữ tu còn phục vụ trong 6 bệnh viện Nhà Nước: Rạch Giá, Long Xuyên, Bac Liêu, Cần Thơ, Châu Đốc, Nam Vang.
Năm 1978, theo chính sách của chính quyền đương thời, nhà Dòng hiến một phần tu viện để Sở Thương Binh và Xã Hội quản lý sử dụng cho các đối tượng xã hội, cô nhi, bô lão. Từ đó, nhà nước quản lý toàn bộ các ngôi nhà dành cho công tác xã hội của Dòng Chúa Quan Phòng, gồm Chẩn Y viện, Cô Nhi viện, nhà Dưỡng Lão, nhà Bảo Sanh….. Về đối tượng xã hội, tu viện bàn giao cho nhà nước lúc đó gồm có các trẻ cô nhi, các người già yếu tàn tật. Một số các cô nhi trên dưới 30 em xin ở lại với các nữ tu.
Jack Le + Dòng Chúa Quan Phòng Portieux
Sự kiện Laredo năm 1948 là một trong những câu chuyện gây tranh cãi nhất trong lịch sử các báo cáo về UFO, kết hợp giữa các lời kể về một cuộc rượt đuổi trên không, một vụ rơi bí ẩn và việc phát hiện ra một thực thể phi nhân loại với những đặc điểm bất thường.
Vào thời điểm đó, Laredo, Texas, chưa phải là thành phố quan trọng như ngày nay. Nó bắt đầu như một thị trấn nhỏ trước khi trở thành một trong những thành phố lớn nhất của tiểu bang và là một trung tâm thương mại quốc tế lớn trên biên giới với Mexico. Nhưng điều quan trọng ở đây là những gì được cho là đã xảy ra vào mùa hè năm 1948.
Vào ngày 7 tháng 7 năm đó, hệ thống cảnh báo sớm của Hoa Kỳ đã phát hiện một vật thể bay không xác định (UFO) đi vào không phận từ hướng tiểu bang Washington, di chuyển với tốc độ cực nhanh về phía Nam Texas. Hai máy bay chiến đấu đã được điều động để chặn nó, nhưng vật thể đã thực hiện một cú ngoặt gấp, vuông góc mà không mất tốc độ - một hành vi được coi là bất khả thi về mặt kỹ thuật vào thời điểm đó.
Cuộc rượt đuổi tiếp tục, nhưng vật thể dường như bị trục trặc; nó bắt đầu chao đảo trên không và tốc độ của nó thay đổi thất thường. Ngay sau đó, nó đã rơi xuống cách Laredo khoảng 30 dặm về phía nam, trong lãnh thổ Mexico.
Để đưa ra lời giải thích ngoại giao cho vụ tai nạn, Hoa Kỳ đã thông báo với chính quyền Mexico rằng xác máy bay là một máy bay thử nghiệm bí mật. Một nhóm chuyên gia đã ngay lập tức được cử đến hiện trường để bảo vệ và điều tra các mảnh vỡ. Nhưng những gì họ tìm thấy không giống bất kỳ loại máy bay nào đã biết.
Vật thể được mô tả là gần như hình đĩa, với đường kính khoảng 90 feet, và bề mặt kim loại nhẵn, hoàn toàn không có bất kỳ khe hở hay vết nứt nào. Thiệt hại do va chạm rất lớn, và vật liệu được sử dụng trong cấu tạo của nó đã khiến nhóm nghiên cứu bối rối; không có thành phần thông thường nào như dây điện, nhựa hoặc thủy tinh được quan sát thấy. Ngay cả những bộ phận dường như được giữ với nhau bằng ốc vít cũng không thể tháo rời, và nhóm nghiên cứu phải phá vỡ chúng bằng các công cụ công nghiệp tiên tiến.
Hai loại kim loại khác nhau đã được quan sát thấy: một loại có khả năng chịu nhiệt cao đến mức không bị ảnh hưởng bởi các công cụ cắt nhiệt, và một loại khác phản ứng theo cách ngược lại, bốc cháy khi tiếp xúc. Phần còn lại của lớp vỏ ngoài nằm rải rác khắp hiện trường dưới dạng các mảnh kim loại rắn, không thể uốn cong.
Trong đống đổ nát, phát hiện kỳ lạ nhất là hài cốt cháy đen của một sinh vật không phải con người. Các nhiếp ảnh gia quân đội đã ghi lại hình ảnh bất chấp điều kiện khắc nghiệt của cái nóng và cát cháy. Sau khi thi thể được di chuyển đến một nơi mát mẻ hơn, nó đã được chụp ảnh rõ hơn.
Sinh vật này tương đối nhỏ, dài khoảng 1,5 mét, với cái đầu to bất thường so với cơ thể. Mắt của nó bị che khuất bởi lửa, nhưng hốc mắt rộng hơn bình thường, cho thấy tầm nhìn rộng. Tai và mũi không rõ ràng, chỉ là những lỗ hở. Miệng là một khe hẹp không có răng hay lưỡi.
Các chi của nó cũng có vẻ khác biệt; cánh tay dài hơn bình thường, và mỗi bàn tay chỉ có bốn ngón tay không có ngón cái, kết thúc bằng các phần phụ giống như móng vuốt. Bàn chân ngắn, không có ngón chân rõ ràng. Mặc dù có sự khác biệt này, các khớp được sắp xếp theo cách khá giống với khớp của con người.
Một cuộc khám nghiệm y tế do hai bác sĩ quân y tiến hành đã tiết lộ thêm những điều kỳ lạ. Không tìm thấy hệ tiêu hóa hoặc cơ quan sinh sản thông thường. Các mô rất mềm và không có bất kỳ sợi cơ nào được biết đến, khiến các bác sĩ đưa ra giả thuyết rằng chuyển động có thể phụ thuộc vào một cấu trúc xương khác. Một khớp kim loại cũng được quan sát thấy ở vùng khuỷu tay, một đặc điểm khó giải thích về mặt sinh học.
Chất lỏng bên trong cơ thể trong suốt, có màu xanh lục nhạt và phát ra mùi lưu huỳnh nồng nặc. Nhóm nghiên cứu cũng báo cáo sự hiện diện của ozone tại hiện trường vụ tai nạn.
Mặc dù có tất cả những chi tiết này, thông tin hiện có về vụ việc chủ yếu đến từ lời khai của một nhiếp ảnh gia quân đội giấu tên, người đã giữ những bức ảnh này trong nhiều thập kỷ trước khi chia sẻ chúng vào cuối những năm 1970. Tuy nhiên, những bức ảnh này chưa bao giờ được chính thức công nhận, và nhiều người cho rằng chúng là giả mạo hoặc là kết quả của sự hiểu sai.
Cuối cùng, câu chuyện vẫn chỉ gói gọn trong hai khả năng: hoặc đó là một vụ việc có thật đã bị che đậy, hoặc đó chỉ đơn giản là một trò lừa bịp dựa trên những bức ảnh về một vụ tai nạn máy bay thông thường đã bị phóng đại.
Các cuộc điều tra sau đó nghiêng về khả năng thứ hai, cho rằng bằng chứng được trình bày là không đủ.
KÝ ỨC GRALL: CHUYỆN VỀ CHIẾC CỔNG SẮT CŨ VÀ NHÀ THƯƠNG HƠN 160 TUỔI…
Nhà thương Đồn Đất là tên gọi dân gian quen thuộc của Bệnh viện Nhi đồng 2 ngày nay, tọa lạc tại số 14 đường Lý Tự Trọng, phường Bến Nghé, Quận 1, TP.HCM.
Bệnh viện ban đầu có tên là Grall, được xây dựng từ năm 1863. Vì nằm trên trục đường Đồn Đất (nay là đường Thái Văn Lung và khu vực xung quanh) và được xây trên một gò đất cao, người dân Sài Gòn xưa đã quen gọi là Nhà thương Đồn Đất.
Nơi này từng là bệnh viện quân đội Pháp. Đến năm 1954, bệnh viện được bàn giao cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa.
Sau năm 1975, người Pháp rút đi, bệnh viện được bàn giao lại cho Tổng cục Hậu cần Quân đội Nhân dân Việt Nam vào năm 1976 với tên gọi Bệnh viện Quân y 115 (trước khi Bệnh viện 115 hiện nay chuyển về đường Sư Vạn Hạnh).
Đến năm 1978, trước nhu cầu cấp bách về chăm sóc sức khỏe trẻ em của thành phố sau chiến tranh, bệnh viện được chính thức chuyển giao cho Sở Y tế TP.HCM để thành lập Bệnh viện Nhi Đồng 2. Sự chuyển đổi này vô cùng hợp lý, bởi không gian nhiều cây xanh, thoáng đãng và yên tĩnh của Grall cũ cực kỳ lý tưởng cho việc điều trị và phục hồi của bệnh nhi.
Từ năm 1978, cơ sở này chính thức trở thành Bệnh viện Nhi đồng 2, chuyên khám và điều trị bệnh cho trẻ em.
Những ai yêu mến lịch sử thành phố đều có thể hình dung ra một "Nhà thương Đồn Đất" rợp bóng cổ thụ, bình yên nằm giữa lòng đô thị. Đặc biệt là với giai thoại và góc nhìn lịch sử thú vị quanh bệnh viện Grall này.
Cấu trúc các dãy nhà sườn sắt tiền chế tại bệnh viện được mang từ Pháp sang. Các cấu trúc khung sắt này được thiết kế và sản xuất bởi chính văn phòng của kỹ sư Gustave Eiffel (cha đẻ của Tháp Eiffel và Bưu điện Trung tâm Sài Gòn).
Bệnh viện được thiết kế theo mô hình các tòa nhà (pavilion) biệt lập, nối với nhau bằng hành lang có mái che. Đây là triết lý y khoa tiến bộ thời bấy giờ: tách rời các khoa để tránh lây nhiễm chéo bệnh truyền nhiễm, tận dụng tối đa gió tự nhiên để "thổi bay" chướng khí – rất phù hợp với khí hậu nhiệt đới của Nam kỳ.
Việc nâng nền bằng đá granit giúp các phòng bệnh cách ly hoàn toàn với độ ẩm của đất, một yếu tố cực kỳ quan trọng trong việc phòng chống bệnh lao và sốt rét thời đó.
Khi bác sĩ Albert Calmette (học trò xuất sắc của Louis Pasteur) đến Sài Gòn năm 1891 để lập chi nhánh Viện Pasteur đầu tiên hải ngoại, ông bắt đầu trong một căn phòng trống nhỏ chỉ rộng khoảng 16m^2 ngay tại góc bệnh viện quân y này.
Tại đây, với những thiết bị thô sơ, ông đã dốc sức nghiên cứu và sản xuất thành công vắc-xin đậu mùa và huyết thanh kháng nọc rắn độc (rắn hổ mang).
Người dân Sài Gòn và lục tỉnh thời đó hay tin có "thần dược" trị rắn cắn đã kéo về nhà thương Đồn Đất rất đông, đặt nền móng vững chắc cho uy tín của y học hiện đại tại Việt Nam.
Sau Hiệp định Genève năm 1954, trong khi các cơ sở hành chính, quân sự khác được bàn giao, Bệnh viện Grall vẫn duy trì vị chế là bệnh viện thuộc quyền quản lý của Bộ Ngoại giao Pháp.
Toàn bộ bác sĩ trưởng khoa, giám đốc bệnh viện đều là người Pháp (chủ yếu là bác sĩ quân y biệt phái). Ngôn ngữ giao tiếp, hồ sơ bệnh án hoàn toàn bằng tiếng Pháp.
Bệnh viện không chỉ phục vụ kiều dân Pháp, giới thượng lưu Sài Gòn mà còn có chế độ khám miễn phí hoặc giá rẻ cho người bình dân tại khu "Nội hóa". Đây là nơi nổi tiếng có kỹ thuật ngoại khoa (mổ xẻ) và sản khoa thuộc hàng tiên tiến nhất Đông Nam Á lúc bấy giờ.
Do vị trí nằm gần các điểm nóng chiến sự (Đại sứ quán Mỹ, Đài phát thanh), Grall đã trở thành trạm tiếp nhận thương binh của tất cả các bên. Vì là bệnh viện mang cờ Pháp (trung lập), nơi này được xem là một "vùng an toàn" bất khả xâm phạm giữa khói lửa.
*^*
Một chi tiết nhỏ thú vị về chữ "Grall" ngày nay là nếu mọi người để ý kỹ trên chiếc cổng sắt cổ kính ở đường Lý Tự Trọng, bảng tên đúc bằng gang chữ "HOPITAL GRALL" vẫn còn nguyên vẹn. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, việc thành phố vẫn giữ lại cái tên này, bên cạnh bảng tên mới "Bệnh viện Nhi Đồng 2", thể hiện một thái độ trân trọng đối với di sản văn hóa và lịch sử y học của mảnh đất Sài Gòn - TP.HCM.
Từ FB 8 Sài Gòn
HÒN ĐÁ KHÔNG CHỊU NGÃ –
KỲ QUAN CỦA THỜI GIAN
TRÊN BỜ BIỂN TÂY BAN NHA
Giữa những vách đá hoang sơ của vùng Cantabria ở miền Bắc Tây Ban Nha, có một khối đá khổng lồ khiến bất cứ ai nhìn thấy cũng phải dụi mắt vài lần để tin rằng đó là sự thật.
Một tảng đá tròn nặng hàng trăm tấn đang chênh vênh trên đỉnh một mỏm đá hẹp, như thể chỉ cần một cơn gió mạnh là có thể rơi xuống biển bất cứ lúc nào.
Thế nhưng nó đã đứng đó hàng nghìn năm.
Người dân địa phương gọi đây là "Hòn đá không chịu ngã", một trong những hiện tượng địa chất kỳ lạ nhất của bờ biển Cantabria.
Điều thú vị là không có bàn tay con người nào đặt khối đá ấy lên đó. Tất cả đều là tác phẩm của thiên nhiên. Trải qua hàng triệu năm, gió Đại Tây Dương, sóng biển và mưa bão đã bào mòn lớp đá mềm xung quanh, trong khi phần đá cứng hơn vẫn tồn tại. Kết quả là một "tác phẩm điêu khắc" ngoạn mục mà thiên nhiên đã kiên nhẫn tạo nên qua thời gian.
Cantabria – vùng đất của những kỳ quan bị lãng quên
Khác với Barcelona hay Madrid nhộn nhịp, Cantabria vẫn giữ được vẻ đẹp nguyên sơ với những bãi biển hoang dã, vách đá dựng đứng và các làng chài hàng trăm năm tuổi.
Nơi đây còn nổi tiếng với hệ thống hang động tiền sử, trong đó có Altamira Cave – địa điểm được mệnh danh là "Nhà nguyện Sistine của nghệ thuật thời tiền sử", lưu giữ những bức tranh hang động có niên đại hơn 14.000 năm.
Một điểm đến khiến nhiếp ảnh gia mê mẩn
Vào lúc bình minh hoặc hoàng hôn, ánh nắng vàng chiếu lên khối đá tạo nên khung cảnh siêu thực, khiến nhiều người liên tưởng đến một quả cầu đá khổng lồ đang thách thức trọng lực.
Đứng trước cảnh tượng ấy, người ta không chỉ ngạc nhiên về sức mạnh của thiên nhiên mà còn cảm nhận được một bài học sâu sắc.
Có những thứ tồn tại không phải vì chúng mạnh nhất.
Mà vì chúng biết cân bằng.
Khối đá ấy vẫn đứng vững giữa gió bão Đại Tây Dương không phải nhờ kích thước khổng lồ, mà nhờ tìm được điểm tựa hoàn hảo.
Và có lẽ cuộc sống cũng vậy.
Không phải ai lớn mạnh nhất sẽ đi xa nhất.
Mà thường là những người biết giữ thăng bằng giữa sóng gió cuộc đời.

Có những tảng đá chỉ là đá.
Nhưng cũng có những tảng đá khiến con người phải suy ngẫm về thời gian, sự kiên cường và sức mạnh phi thường của thiên nhiên.

• (Phan Thế Nghĩa share from Pluto
Sale PM).
KỲ QUAN CỦA THỜI GIAN
TRÊN BỜ BIỂN TÂY BAN NHA
Giữa những vách đá hoang sơ của vùng Cantabria ở miền Bắc Tây Ban Nha, có một khối đá khổng lồ khiến bất cứ ai nhìn thấy cũng phải dụi mắt vài lần để tin rằng đó là sự thật.
Một tảng đá tròn nặng hàng trăm tấn đang chênh vênh trên đỉnh một mỏm đá hẹp, như thể chỉ cần một cơn gió mạnh là có thể rơi xuống biển bất cứ lúc nào.
Thế nhưng nó đã đứng đó hàng nghìn năm.
Người dân địa phương gọi đây là "Hòn đá không chịu ngã", một trong những hiện tượng địa chất kỳ lạ nhất của bờ biển Cantabria.
Điều thú vị là không có bàn tay con người nào đặt khối đá ấy lên đó. Tất cả đều là tác phẩm của thiên nhiên. Trải qua hàng triệu năm, gió Đại Tây Dương, sóng biển và mưa bão đã bào mòn lớp đá mềm xung quanh, trong khi phần đá cứng hơn vẫn tồn tại. Kết quả là một "tác phẩm điêu khắc" ngoạn mục mà thiên nhiên đã kiên nhẫn tạo nên qua thời gian.
Khác với Barcelona hay Madrid nhộn nhịp, Cantabria vẫn giữ được vẻ đẹp nguyên sơ với những bãi biển hoang dã, vách đá dựng đứng và các làng chài hàng trăm năm tuổi.
Nơi đây còn nổi tiếng với hệ thống hang động tiền sử, trong đó có Altamira Cave – địa điểm được mệnh danh là "Nhà nguyện Sistine của nghệ thuật thời tiền sử", lưu giữ những bức tranh hang động có niên đại hơn 14.000 năm.
Vào lúc bình minh hoặc hoàng hôn, ánh nắng vàng chiếu lên khối đá tạo nên khung cảnh siêu thực, khiến nhiều người liên tưởng đến một quả cầu đá khổng lồ đang thách thức trọng lực.
Đứng trước cảnh tượng ấy, người ta không chỉ ngạc nhiên về sức mạnh của thiên nhiên mà còn cảm nhận được một bài học sâu sắc.
Có những thứ tồn tại không phải vì chúng mạnh nhất.
Mà vì chúng biết cân bằng.
Khối đá ấy vẫn đứng vững giữa gió bão Đại Tây Dương không phải nhờ kích thước khổng lồ, mà nhờ tìm được điểm tựa hoàn hảo.
Và có lẽ cuộc sống cũng vậy.
Không phải ai lớn mạnh nhất sẽ đi xa nhất.
Mà thường là những người biết giữ thăng bằng giữa sóng gió cuộc đời.
Nhưng cũng có những tảng đá khiến con người phải suy ngẫm về thời gian, sự kiên cường và sức mạnh phi thường của thiên nhiên.
• (Phan Thế Nghĩa share from Pluto
Sale PM).







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét