.

.

a

Hoa đào nở, chim én về, mùa xuân lại đến. Chúc quý thầy cô và anh chị em đồng môn năm mới Bính Ngọ 2026 : - nghìn sự như ý, vạn sự như mơ, triệu sự bất ngờ, tỷ lần hạnh phúc.
THƯƠNG CHÚC THẦY CÔ, ANH CHỊ EM ĐỒNG MÔN TRƯỜNG HOÀNG DIỆU - MỘT NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026 AN KHANG THỊNH VƯỢNG - VẠN SỰ NHƯ Ý

30 tháng 6 2026

Khi một thánh đường đã mất được dựng lại bằng không khí và ánh sáng.






Tại vùng Puglia ở miền nam nước Ý, bên cạnh nhà thờ Romanesque cổ kính Basilica di Santa Maria Maggiore di Siponto, du khách có thể bắt gặp một công trình khiến nhiều người tưởng như đang nhìn thấy bóng ma của quá khứ. Không phải đá cẩm thạch, không phải gạch nung hay bê tông, toàn bộ thánh đường được tạo nên từ lưới thép mạ kẽm trong suốt, mỏng đến mức dường như tan biến vào bầu trời.
Đó là tác phẩm nổi tiếng của nghệ sĩ Ý Edoardo Tresoldi, hoàn thành năm 2016 tại Công viên Khảo cổ Siponto. Công trình cao khoảng 14 mét, tái hiện kích thước và hình khối của một đại giáo đường Kitô giáo sơ kỳ từng tồn tại tại đây từ thế kỷ IV–V trước khi bị động đất và thời gian phá hủy gần như hoàn toàn.
Thay vì phục dựng bằng vật liệu mới rồi giả vờ rằng lịch sử chưa từng đứt đoạn, Tresoldi lựa chọn một cách tiếp cận đầy chất thơ. Ông dựng lại phần kiến trúc đã biến mất bằng hơn bảy tấn lưới thép đan thủ công, để người xem vừa nhìn thấy hình hài nguyên vẹn của thánh đường xưa, vừa nhìn xuyên qua nó tới những dấu tích khảo cổ còn nằm dưới mặt đất. Quá khứ và hiện tại cùng tồn tại trong một không gian duy nhất.
Ban ngày, công trình giống một bản vẽ kiến trúc khổng lồ lơ lửng giữa không trung. Khi màn đêm buông xuống và hệ thống chiếu sáng được bật lên, những mái vòm, hàng cột và gian giữa hiện ra như một thánh đường bằng ánh sáng. Nhiều du khách ví trải nghiệm ấy giống như đang bước vào ký ức của một thành phố hơn là một công trình xây dựng thực sự.
Tác phẩm nhanh chóng thu hút sự chú ý của giới kiến trúc và khảo cổ quốc tế bởi nó giải quyết một câu hỏi khó: làm thế nào để kể câu chuyện của một di tích đã biến mất mà không làm tổn thương phần lịch sử còn lại. Thay vì tái tạo giả cổ, Tresoldi biến sự vắng mặt thành một phần của tác phẩm. Những khoảng trống trở thành vật liệu xây dựng, còn không khí trở thành bức tường.
Siponto vì thế trở thành một trong những ví dụ đặc biệt nhất về sự giao thoa giữa nghệ thuật đương đại và khảo cổ học. Nơi đây nhắc nhở rằng di sản không nhất thiết phải được tái sinh bằng đá. Đôi khi, cách đẹp nhất để phục hồi một công trình đã mất là cho phép người ta nhìn thấy nó như một ký ức đang hiện hình trước mắt.

Sưu Tầm








Nữ bác sĩ đầu tiên trong lịch sử y học Việt Nam: Thông thạo 7 ngoại ngữ, ly hôn Tiến sĩ Luật gây chấn động Sài Gòn thế kỷ XX, qua đời ở tuổi 106

Trước lúc ra đi, bà đã hiến tặng biệt thự tư gia làm cơ sở cho trường Đại học Y khoa.
Lịch sử y học Việt Nam ghi nhận nhiều danh y có đóng góp lớn cho nền y học dân tộc như Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác hay Trâu Canh. Tuy nhiên, phải đến đầu thế kỷ XX, cùng với sự du nhập của Tây y, nước ta mới xuất hiện những bác sĩ được đào tạo theo hệ thống y khoa hiện đại.
Trong số đó, bác sĩ Henriette Bùi Quang Chiêuđược biết đến là nữ bác sĩ đầu tiên của Việt Nam - người đã mở đường cho nhiều thế hệ phụ nữ bước vào lĩnh vực y học.
Xuất thân danh giá, thông thạo 7 ngoại ngữ
Henriette Bùi Quang Chiêu sinh ngày 8/9/1906 tại Hà Nội, lớn lên ở Sài Gòn trong một gia đình giàu có và có vị thế xã hội.
Cha bà là ông Bùi Quang Chiêu - kỹ sư canh nông đầu tiên của Việt Nam. Ông từng du học tại Pháp, tham gia thành lập Đảng Lập hiến, cổ vũ tự do báo chí, đấu tranh đòi quyền bình đẳng cho người bản xứ và hỗ trợ nhiều thanh niên Việt Nam sang Pháp học tập. Ngay từ khi chào đời, Henriette đã mang quốc tịch Pháp, cũng là lý do bà có tên gọi theo phong cách phương Tây.
Mẹ bà là Vương Thị Y, xuất thân từ gia đình giàu có. Anh trai bà - Louis Bùi Quang Chiêu, là bác sĩ chuyên khoa lao nổi tiếng tại Sài Gòn.
Từ nhỏ, Henriette nổi tiếng thông minh, học giỏi. Năm 9 tuổi, bà thi vượt cấp và nhận bằng Certificat d'Études sớm hơn bạn bè cùng trang lứa 2 năm. Sau đó, bà theo học tại trường Saint Paul de Chartres (Trường Nhà Trắng) rồi chuyển sang Collège des Jeunes Filles, tức Trường Gia Long, nay là Trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai (TP. HCM).
Năm 15 tuổi, theo nguyện vọng của bản thân, Henriette được cha đưa sang Pháp du học tại Lycée Fénelon ở Paris. Trong thời gian học tập tại Pháp, bà tiếp tục bộc lộ năng lực học thuật nổi bật. Ngoài tiếng Việt, tiếng Pháp và tiếng Hoa, Henriette còn thành thạo tiếng Anh, Tây Ban Nha, Italy cùng 2 cổ ngữ là Hy Lạp và Latinh. Một năm sau khi sang Pháp, Henriette nhận tin mẹ qua đời vì bệnh lao phổi. Bản thân bà cũng mắc bệnh về mắt và phải gián đoạn việc học một năm.
Biến cố gia đình cùng ảnh hưởng từ người anh trai là bác sĩ Louis Bùi Quang Chiêu đã thôi thúc bà theo đuổi ngành y.
Henriette Bùi Quang Chiêu (thứ hai từ trái sang) bên gia đình năm 1921 tại TP. HCM. Ảnh: TL
Năm 1926, Henriette tốt nghiệp trung học tại Lycée Fénelon. Một năm sau, bà chính thức trở thành sinh viên Đại học Y khoa Paris. Ở thời điểm đó, phụ nữ theo học đại học đã là điều hiếm thấy, trong khi ngành y gần như là lĩnh vực dành riêng cho nam giới. Sự xuất hiện của một nữ sinh người Việt tại trường y danh tiếng bậc nhất nước Pháp được xem là hiện tượng đặc biệt.
Trong thời gian học tập tại Paris, Henriette có cơ hội tiếp xúc với nhiều trí thức nổi tiếng đương thời như nhà khoa học Marie Curie hay sử gia Charles Seignobos. Bà cũng quen biết nhiều du học sinh Việt Nam sau này trở thành những nhân vật có ảnh hưởng trên chính trường và đời sống xã hội.
Năm 1932, Henriette hoàn thành chương trình đào tạo y khoa. Sau thời gian thực tập chuyên ngành sản phụ khoa, bà trở thành người phụ nữ Việt Nam đầu tiên nhận bằng bác sĩ y khoa tại Pháp. Khi chuẩn bị làm luận án tốt nghiệp, Henriette dự định nghiên cứu đề tài “Thụ tinh nhân tạo cho người hiếm muộn”. Tuy nhiên, đây là vấn đề quá mới mẻ đối với xã hội châu Âu thời bấy giờ và gây nhiều tranh cãi, buộc bà phải chuyển sang đề tài khác.
Luận án sau đó được hội đồng đánh giá xuất sắc, nhận nhiều lời khen ngợi và được trao huy chương năm 1934. Thành tích này đưa Henriette Bùi Quang Chiêu trở thành một trong những trí thức Việt Nam nổi bật nhất tại Pháp thời kỳ đó.
Năm 1935, Henriette trở về Việt Nam và được bổ nhiệm làm Trưởng khoa Hộ sinh tại Bệnh viện Chợ Lớn khi mới 29 tuổi. Đây là lần đầu tiên một phụ nữ Việt Nam đảm nhiệm vị trí quản lý chuyên môn trong hệ thống bệnh viện thuộc địa.
Bước vào môi trường làm việc vốn chịu ảnh hưởng nặng nề của chế độ phân biệt chủng tộc, Henriette thường xuyên chứng kiến sự bất bình đẳng giữa y bác sĩ người Pháp và người Việt. Tại các cuộc họp chuyên môn, bác sĩ người Pháp thường chỉ trao đổi với đồng nghiệp cùng quốc tịch, trong khi bác sĩ Việt Nam bị tách biệt. Chế độ lương thưởng, điều kiện làm việc và cách đối xử với bệnh nhân người Việt cũng tồn tại nhiều bất công.
Henriette nhiều lần lên tiếng phản đối tình trạng này. Bà trực tiếp kiến nghị với ban giám đốc bệnh viện, thậm chí gửi đề xuất lên cấp thống đốc nhằm yêu cầu cải thiện quyền lợi cho đội ngũ y tế và người bệnh Việt Nam.
Một câu chuyện thường được nhắc tới là việc giám đốc bệnh viện từng yêu cầu bà mặc váy đầm để tạo sự "kính trọng" trong mắt đồng nghiệp Pháp. Henriette từ chối với lý do bà muốn tiếp tục ăn mặc như một phụ nữ Việt Nam để nhận được sự tôn trọng từ chính đồng bào mình.
Song song với hoạt động chuyên môn, bà còn viết nhiều bài báo phản biện quan điểm xem nhẹ nền y học dân tộc, khẳng định giá trị của y học Việt Nam bên cạnh những thành tựu mà Tây y mang lại.
Cuộc hôn nhân gây chấn động dư luận Nam Kỳ
Cũng trong năm 1935, theo sự sắp đặt của gia đình, Henriette kết hôn với Vương Quang Nhường - một Tiến sĩ Luật khoa và là luật sư nổi tiếng tại Tòa Thượng thẩm Sài Gòn. Đám cư cưới của hai trí thức hàng đầu thời bấy giờ nhận được sự quan tâm lớn từ dư luận.
Đám cưới của Henriette Bùi Quang Chiêu. Ảnh: TL
Tuy nhiên, Henriette không thực sự mong muốn cuộc hôn nhân được sắp đặt này. Sau gần 2 năm chung sống, hai người quyết định ly hôn.
Theo Vietnamnet, sau này, khi nhắc lại cuộc hôn nhân đầu tiên, bác sĩ Henriette Bùi Quang Chiêu cho biết bà luôn dành sự tôn trọng cho người chồng cũ. Theo lời kể của bà, luật sư Vương Quang Nhường là người chồng mẫu mực, tận tình và hết lòng chăm sóc gia đình. Tuy nhiên, đặc thù công việc của một bác sĩ sản khoa với những ca trực kéo dài, các trường hợp cấp cứu bất kể ngày đêm đã tạo ra những khác biệt trong quan niệm về cuộc sống gia đình giữa hai người.
Sau khi chia tay, cả hai vẫn giữ quan hệ bạn bè. Vụ ly hôn của bác sĩ Henriette Bùi Quang Chiêu từng gây nhiều bàn luận trong xã hội Nam Kỳ thời bấy giờ. Đối với một phụ nữ trí thức thuộc gia đình danh giá, việc chủ động chấm dứt hôn nhân là điều hiếm thấy và vượt ra ngoài những quan niệm phổ biến đương thời.
Cuối năm 1945, gia đình Henriette trải qua biến cố lớn khi ông Bùi Quang Chiêu cùng 3 người con trai bị sát hại. Sau sự kiện này, bà dành toàn bộ tâm sức cho công việc chuyên môn.
Vụ ly hôn của bác sĩ Henriette Bùi Quang Chiêu từng gây nhiều bàn luận trong xã hội Nam Kỳ thời bấy giờ. Ảnh: TL
Năm 1957, Henriette sang Nhật Bản học châm cứu nhằm ứng dụng vào lĩnh vực sản khoa. Năm 1961, bà chuyển sang Pháp sinh sống và mở phòng khám riêng. Trong thời gian này, bà kết hôn với bác sĩ, kỹ sư Nguyễn Ngọc Bích. Ông từng tốt nghiệp École Polytechnique - một trong những trường kỹ thuật danh giá nhất nước Pháp, nơi quy tụ những sinh viên xuất sắc hàng đầu thế giới.
Năm 1965, ông Nguyễn Ngọc Bích mắc ung thư vòm họng. Henriette đưa chồng trở về Việt Nam để ông có thể sống những ngày cuối đời trên quê hương. Cùng năm, ông qua đời. Sau mất mát này, bà tiếp tục tham gia các hoạt đ động khám chữa bệnh cho người dân và những nạn nhân chiến tranh, kể cả tại các vùng giải phóng.
Năm 1970, Henriette tình nguyện làm việc không lương trong lĩnh vực hộ sản và nhi khoa tại Bệnh viện Phú Thọ. Một năm sau, bà quay lại Pháp, tiếp tục hành nghề cho đến khi nghỉ hưu vào năm 1976.
Tổng cộng, bà có 44 năm hoạt động trong ngành y tại cả Việt Nam và Pháp. Trước khi qua đời, Henriette Bùi Quang Chiêu hiến tặng biệt thự tư gia tại số 28 đường Testard ở Sài Gòn làm cơ sở cho Trường Đại học Y khoa thuộc Viện Đại học Sài Gòn. Hiện nay, địa điểm này là một phần của Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh trên đường Võ Văn Tần, TP. HCM.
Biệt thự tư gia của Henriette Bùi Quang Chiêu ở số 28 đường Testard. Ảnh: TL
Bà Henriette khi về già. Ảnh: Dân Việt
Ngày 27/4/2012, bà qua đời tại Paris, hưởng thọ 106 tuổi. Theo di nguyện, tro cốt của bà được đưa về Việt Nam, một phần an táng tại khu mộ dòng họ Bùi ở huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre cũ (nay thuộc tỉnh Vĩnh Long), phần còn lại đặt cạnh mộ người chồng thứ hai là Nguyễn Ngọc Bích.
Từ cô gái Việt Nam sang Pháp du học khi mới 15 tuổi đến nữ bác sĩ đầu tiên của đất nước, Henriette Bùi Quang Chiêu đã để lại dấu ấn đặc biệt trong lịch sử y học Việt Nam. Những thành tựu về chuyên môn, tinh thần đấu tranh vì sự bình đẳng trong ngành y và hơn 4 thập kỷ cống hiến cho nghề chữa bệnh đã giúp bà trở thành một trong những gương mặt tiêu biểu của giới trí thức Việt Nam thế kỷ XX

Anh Khôi


Ông Chủ Nhà Thuốc Nhị Thiên Đường – Người Tạo Nên Một Thương Hiệu Sống Hơn Một Thế Kỷ.
Ít ai biết rằng, cái tên Nhị Thiên Đường mà ngày nay vẫn còn hiện diện qua cây cầu cùng tên ở TP.HCM, thực chất bắt nguồn từ một trong những thương hiệu dược nổi tiếng bậc nhất Đông Dương hơn một thế kỷ trước. Đằng sau thương hiệu ấy là câu chuyện về một doanh nhân tài ba, một người vừa am hiểu Đông y, Tây y, vừa xây dựng nên đế chế dược phẩm vang danh khắp Việt Nam và nhiều nước châu Á.
Người đó là Vi Khải, thường được biết đến với tên Vi Thiếu Bá. Ông là người Minh Hương, có cha gốc Quảng Đông và mẹ là người Việt. Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống y dược, từ nhỏ ông đã sớm tiếp xúc với nghề bốc thuốc cứu người. Sau này, ông sang Pháp học thương mại và y học, tiếp thu kiến thức của nền y học phương Tây nhưng vẫn luôn trân trọng giá trị của y học cổ truyền phương Đông.
Sau khi hoàn thành việc học và trở về Chợ Lớn, ông dùng số tiền trúng xổ số để thành lập Nhị Thiên Đường Dược Hành. Đây được xem là bước ngoặt lớn đưa tên tuổi của ông trở thành một trong những doanh nhân thành đạt nhất tại Nam Kỳ thời bấy giờ.
Tên gọi "Nhị Thiên Đường" mang một ý nghĩa rất đặc biệt. Người xưa có câu: "Dân dĩ thực vi thiên, dĩ dược vi đệ nhị thiên." Nghĩa là con người lấy cái ăn làm điều quan trọng nhất, còn thuốc men là điều quan trọng thứ hai để duy trì sự sống. Chính vì vậy, thương hiệu được đặt tên là Nhị Thiên Đường, thể hiện mong muốn mang thuốc tốt đến cứu người.
Thực tế, trước khi Nhị Thiên Đường ra đời, cha ông là Vi Bắc Đức đã nổi tiếng với dòng thuốc mang nhãn hiệu "Ông Phật", xuất hiện tại Nam Kỳ từ đầu thế kỷ XX. Kế thừa nền tảng ấy, Vi Khải không chỉ phát triển thương hiệu mà còn đưa nó lên một tầm cao mới bằng việc kết hợp giữa kỹ thuật bào chế hiện đại của phương Tây với kinh nghiệm y học cổ truyền phương Đông.
Tại Chợ Lớn, ông xây dựng hai cơ sở lớn gồm Nhị Thiên Đường Dược Hành trên đường Triệu Quang Phục ngày nay và Nhị Thiên Đường Chế Dược Xưởng trên đường Trần Hưng Đạo để sản xuất thuốc quy mô lớn. Các sản phẩm nổi tiếng như dầu gió, cao xoa, thuốc hoàn, thuốc tán… nhanh chóng được đông đảo người dân từ tầng lớp bình dân đến giới thượng lưu tin dùng.
Không dừng lại ở thị trường Việt Nam, sản phẩm của Nhị Thiên Đường còn được xuất khẩu sang Campuchia, Singapore, Thái Lan, Hồng Kông, Philippines, Ấn Độ, nhiều nước châu Phi và cả Trung Quốc. Đến năm 1930, thương hiệu tiếp tục mở thêm cơ sở tại Hồng Kông và sau này phát triển thành Công ty TNHH Nhị Thiên Đường, vẫn còn hoạt động tại Hồng Kông cho đến ngày nay.
Không chỉ là một doanh nhân thành đạt, Vi Thiếu Bá còn nổi tiếng là người trọng nghĩa, giàu lòng nhân ái và thường xuyên làm từ thiện. Ông từng được triều đình vua Bảo Đại, Vương quốc Campuchia và chính quyền Pháp trao tặng nhiều huân chương cao quý vì những đóng góp cho xã hội và ngành y dược. Năm 1932, ông được trao Long Bội Tinh của Pháp, một phần thưởng rất hiếm dành cho doanh nhân người Hoa ở hải ngoại.
Năm 1937, khi chiến tranh Trung – Nhật bùng nổ, ông cùng phu nhân Đặng Thoại Châu đã quyên góp một khoản tiền rất lớn và nhiều nữ trang quý để cứu trợ các nạn nhân chiến tranh thông qua các tổ chức từ thiện, thể hiện tinh thần nhân đạo vượt lên trên lợi ích kinh doanh.
Thời kỳ hưng thịnh nhất, Nhị Thiên Đường có hệ thống cơ sở tại Chợ Lớn, Hà Nội, Huế cùng mạng lưới phân phối rộng khắp Đông Dương và nhiều quốc gia châu Á. Hình ảnh Ông Phật trên bao bì sản phẩm từng trở thành biểu tượng quen thuộc trong ký ức của nhiều thế hệ người Việt.
Năm 1944, Vi Khải qua đời tại Hồng Kông khi mới khoảng 50 tuổi. Sau khi ông mất, các con tiếp tục kế thừa sự nghiệp gia đình. Dù hãng dược tại Việt Nam không còn tồn tại như trước, nhưng thương hiệu Nhị Thiên Đường vẫn còn được duy trì tại Hồng Kông, còn cái tên Cầu Nhị Thiên Đường ở TP.HCM vẫn nhắc nhớ về một doanh nhân tài ba đã góp phần tạo dựng nên một trong những thương hiệu dược phẩm nổi tiếng nhất lịch sử Việt Nam.
Hơn một thế kỷ đã trôi qua, cái tên Nhị Thiên Đường không chỉ còn là ký ức về một nhà thuốc lừng danh, mà còn là minh chứng cho trí tuệ, tầm nhìn và tinh thần phụng sự cộng đồng của một doanh nhân đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử thương mại và y dược nước ta.







29 tháng 6 2026

Loài mực kỳ lạ chứa 'vỏ ốc' trong cơ thể, phát sáng giữa biển đêm.

 Giữa những tầng nước tối tăm của đại dương tồn tại một loài mực kỳ lạ mang theo chiếc vỏ xoắn như hóa thạch sống bên trong cơ thể.

Mực vỏ xoắn (Spirula spirula) là một trong những sinh vật bí ẩn nhất của đại dương. Dù thuộc nhóm mực ống hiện đại, loài này lại sở hữu một đặc điểm khiến các nhà khoa học đặc biệt quan tâm: một chiếc vỏ xoắn ốc nằm hoàn toàn bên trong cơ thể. Đây là đặc điểm gợi nhớ đến những tổ tiên cổ đại của động vật chân đầu, khiến Spirula spirula thường được xem như một mắt xích thú vị giữa quá khứ và hiện tại của thế giới đại dương.

Ảnh: Science Source Prints

Loài mực này phân bố tại các vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới trên khắp thế giới, từ Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương đến Thái Bình Dương. Tuy nhiên, con người hiếm khi bắt gặp chúng vì phần lớn cuộc đời được dành cho các tầng nước sâu, thường ở độ sâu từ vài trăm đến hơn một nghìn mét. Chính vì sống xa tầm quan sát nên nhiều bí mật về tập tính của Spirula spirula đến nay vẫn chưa được giải đáp hoàn toàn.

Ảnh: X

Điều nổi bật nhất ở loài mực này là chiếc vỏ nội sinh màu trắng nằm ở phần cuối cơ thể. Chiếc vỏ gồm nhiều khoang nhỏ chứa khí, hoạt động tương tự một hệ thống điều chỉnh độ nổi tự nhiên. Nhờ thay đổi lượng khí và chất lỏng trong các khoang, mực có thể kiểm soát vị trí của mình trong cột nước mà không cần tiêu tốn quá nhiều năng lượng. Khi cá thể chết đi, phần mô mềm phân hủy và chiếc vỏ nhẹ nổi lên mặt biển, sau đó dạt vào bờ. Chính những chiếc vỏ xoắn nhỏ xíu này thường là thứ con người bắt gặp nhiều hơn cả bản thân con vật.


Ảnh: Karamea Community

Một đặc điểm khác khiến Spirula spirula trở nên đặc biệt là cơ quan phát quang sinh học nằm gần cuối cơ thể. Đây là một trong số ít loài mực sở hữu "đèn sinh học" hướng xuống phía dưới. Các nhà nghiên cứu cho rằng ánh sáng này có thể giúp chúng ngụy trang bằng cách làm mờ bóng đen khi nhìn từ dưới lên, một chiến thuật phổ biến trong thế giới sinh vật biển sâu.

Bản thân con mực không lớn, thường chỉ dài khoảng 4–5 cm. Thân hình nhỏ gọn, đôi mắt phát triển và những xúc tu linh hoạt giúp chúng săn bắt các động vật phù du và sinh vật nhỏ trong bóng tối của đại dương. Dù có kích thước khiêm tốn, Spirula spirula lại đóng vai trò quan trọng trong chuỗi thức ăn biển sâu, trở thành con mồi của cá lớn, cá voi và nhiều loài động vật săn mồi khác.

Các nhà khoa học đặc biệt yêu thích nghiên cứu loài mực này vì nó mang trong mình những đặc điểm vừa cổ xưa vừa hiện đại. Chiếc vỏ xoắn của Spirula spirula thường được so sánh với vỏ của những loài chân đầu đã tuyệt chủng từ hàng chục triệu năm trước, giúp hé lộ quá trình tiến hóa lâu dài của nhóm động vật thông minh này.

Giữa thế giới biển sâu còn đầy bí ẩn, mực vỏ xoắn giống như một "hóa thạch sống" đang bơi lội. Nhỏ bé nhưng độc đáo, nó nhắc nhở chúng ta rằng đại dương vẫn còn vô số sinh vật kỳ lạ đang chờ được khám phá.

TB Tổng Hợp


Victor Hugo: "Những người khốn khổ" và di chúc 50.000 franc vàng

Bạn có biết, trước khi nhắm mắt xuôi tay vào năm 1885, đại văn hào Victor Hugo đã để lại một bản di chúc lịch sử chỉ vỏn vẹn 5 câu?
Dòng đầu tiên trong bức mật ngôn ấy viết:
“Tôi để lại 50.000 franc cho người nghèo."
Và dòng thứ hai:
“Tôi ước mong được chôn cất trong chiếc xe tang của người nghèo."
Sinh năm 1802 tại Besançon – một thành phố cổ kính miền Đông nước Pháp, cậu bé Victor Hugo ngày ấy chắc không thể ngờ mình sẽ trở thành biểu tượng văn học vĩ đại nhất của nhân loại. Một bậc vĩ nhân sở hữu khối tài sản khổng lồ từ tiền nhuận bút kiệt tác "Những người khốn khổ", lại chọn rời bỏ thế gian trên chiếc xe gỗ thô sơ dành cho kẻ hành khất. Vì sao vậy?
Từ trang sách bước ra đời thực
Khi đặt bút viết "Những người khốn khổ", Victor Hugo không chỉ làm văn chương. Ông đang bóc trần một xã hội ngột ngạt, nơi những con người nhỏ bé bị dìm xuống đáy sâu của sự bất công và nghèo đói.
Đó là một Jean Valjean khốn khổ, chỉ vì nửa ổ bánh mì cứu đói cho đàn cháu nhỏ mà phải đánh đổi bằng 19 năm tù đày tủi nhục, bị xã hội ruồng rẫy với tấm thẻ vàng của một tội phạm.
Đó là một Fantine tội nghiệp, vì cái nghèo mà phải bán tóc, bán răng, bán đi cả danh dự để nuôi con rồi ch*t trong cô độc.
Đó là những đứa trẻ như Cosette bị bóc lột, hay Gavroche lang thang nơi góc phố Paris hoa lệ nhưng đầy máu và nước mắt.
Thế nhưng, đi qua muôn vàn cay đắng và sự khốn khổ tột cùng ấy, tình người vẫn rực sáng. Nhân vật Jean Valjean sau khi giàu có đã âm thầm cống hiến toàn bộ gia tài cho những mảnh đời cơ cực, để rồi khi nằm xuống chỉ cần một nấm mồ vô danh.
Victor Hugo đã sống đúng như cách ông tạo ra Jean Valjean. Ông trích một phần tài sản lớn từ chính tiền nhuận bút của cuốn sách để trả lại cho cuộc đời, trả lại cho chính những nguyên mẫu "khốn khổ" đã nuôi dưỡng cảm hứng cho ông.
Đám tang của một "vị vua" không vương miện
Dù mong muốn một lễ tang giản dị, nhưng vào ngày đưa tiễn ông, hơn 2 triệu người dân Paris đã đổ ra đường. Đó không phải là một cuộc tiễn đưa đầy u uất, mà là ngày hội tôn vinh một tâm hồn vĩ đại đã dành trọn đời mình để đứng về phía những kẻ yếu thế.
Mỗi trang sách của đứa con xứ Besançon lấp lánh ánh sáng nhân đạo, và hành động cuối đời của ông chính là dấu chấm hết hoàn hảo nhất cho thiên anh hùng ca mang tên mình.
"Lương tâm mà rách nát thì cuộc đời cũng chỉ chắp vá mà thôi." — Tâm niệm ấy của Hugo vẫn vẹn nguyên giá trị cho đến tận hôm nay...
Văn học Pháp

TÀU TITANIC
Thuyền phó tàu Titanic tiết lộ bí mật vĩ đại giấu kín nửa đời người:
"Phương Tây, văn minh hơn chúng ta từ rất lâu!"
-----------------------------------
Đêm ngày 14/4/1912, một vụ tai nạn kinh hoàng đã xảy ra. Con tàu mang phong hiệu “không thể chìm” có tên Titanic đã đâm sầm vào một tảng băng trôi khổng lồ. Kết quả của vụ va chạm ấy là những con số và nỗi đau mà người ta không bao giờ muốn nhắc lại.
1.514 người đã thiệt mạng trong vụ đắm tàu kinh hoàng năm ấy. Nỗi đau đã khép lại hơn 100 năm, ngày nay, những gì người ta lưu lại về từ khóa “Titanic” có thể là: Vụ đắm tàu, thảm họa hàng hải nghiêm trọng nhất mọi thời đại hay mối tình lãng mạn của Jack và Rose, cũng có thể là tình ca bất hủ My heart will go on qua chất giọng cao vút của Celine Dion…
Tuy nhiên, hầu như tất cả đều không nhận ra, đằng sau bức màn đen tối của những nỗi đau và mất mát ấy là một kiệt tác vĩ đại của Lòng vị tha.
Charles Lightoller, khi ấy 38 tuổi, Thuyền phó thứ 2 trên con tàu Titanic, ông là người cuối cùng được kéo lên trên thuyền cứu hộ, cũng là người còn sống sót có chức vị cao nhất trên thuyền lúc đó.
Trở về từ cõi chết, sau rất nhiều năm giấu kín và im lặng, cuối cùng Charles quyết định viết 17 trang hồi ức, kể lại chi tiết vụ tai nạn kinh hoàng mà ông chứng kiến. Từng câu từng chữ của ông chưa bao giờ sống động và dồn dập đến vậy. “Chỉ cần tôi còn sống, tôi sẽ không bao giờ quên được cảnh tượng đêm đó!”
“Phụ nữ và trẻ em lên trước!”
Khi mệnh lệnh vừa vang lên, nhiều người rời thuyền cứu hộ, họ lặng lẽ bước ra phía sau châm điếu thuốc và hút. Charles không thấy bất kỳ một phụ nữ hay trẻ em có ý định bỏ lại những người đàn ông thân yêu của họ. Tất cả mọi người dường như rất bình tĩnh… trước cái chết… dù đó là một thương nhân nổi tiếng hay người hầu.
Khi chiếc thuyền cứu hộ đầu tiên được đưa xuống mặt nước, Charles đã hỏi một người phụ nữ họ Straw khi ấy đang ở trên boong tàu rằng: “Bà có muốn tôi đưa bà lên thuyền cứu hộ không?”
Người phụ nữ lắc đầu: “Không, tôi nghĩ vẫn là ở lại trên tàu thì tốt hơn”. Người chồng của bà hỏi: “Tại sao em lại không muốn đi lên thuyền cứu hộ?” Người phụ nữ mỉm cười trả lời: “Không, em vẫn muốn ở bên cạnh anh”. Cũng kể từ đây, Charles không bao giờ còn gặp lại đôi vợ chồng này lần nữa…
Astor đệ tứ (John Jacob Astor IV), một nhà kinh doanh, nhà phát minh, nhà văn nổi tiếng và là một trong những người giàu nhất thế giới lúc bấy giờ. Sau khi đưa người vợ mang thai 5 tháng tuổi lên thuyền cứu hộ, một tay dắt chó, tay còn lại châm điếu xì gà rồi hét to về phía chiếc thuyền cứu hộ đang trôi dần về nơi xa: “Anh yêu hai mẹ con”.
Thuyền phó I đã ra mệnh lệnh cho Astor đệ tứ lên thuyền, nhưng ông kiên quyết trả lời rằng: “Tôi thích cách nói cơ bản nhất (bảo vệ phái yếu)!”. Sau đó, ông nhường chỗ của mình cho một người phụ nữ ở khoang hạng 3.
Vài ngày sau, khi bình minh vươn lên trên mặt biển Đại Tây Dương, đội cứu hộ tìm thấy thi thể ông trong tình trạng đầu bị chấn thương nghiêm trọng do đập vào ống khói. Khối tài sản của ông đủ để chế tạo 10 con tàu Titanic, nhưng Astor đệ tứ đã từ chối tất cả. Ông chọn cái chết để bảo vệ người thân yêu của mình, bảo vệ “phụ nữ và trẻ em” và bảo vệ nhân cách của mình.
Ben Guggenheim, một nhà tỷ phú, một nhân vật nổi tiếng trong ngành ngân hàng. Trong giờ phút nguy nan nhất, khi tất cả mọi người đang hối hả và vội vã, ông thản nhiên thay một bộ vest dạ hội sang trọng và tuyên bố: “Tôi phải chết thật trịnh trọng, như một quý ông”.
Trong lời nhắn ông gửi cho vợ viết: “Trên con tàu này, không có bất kỳ một phụ nữ nào vì anh cướp chỗ trên thuyền cứu hộ mà bị bỏ lại trên boong tàu. Anh sẽ không chết giống như một tên khốn, anh sẽ giống như một người đàn ông chân chính”.
Một thủy thủ đề nghị với Strauss, nhà sáng lập công ty bách hóa Macy của Mỹ, cũng là người giàu thứ hai thế giới rằng: “Tôi bảo đảm sẽ không ai phản đối một người già như ngài bước lên thuyền cứu hộ đâu”. Strauss nói: “Tôi sẽ không đi khi những người đàn ông khác còn đang ở lại”. Khi ông cố gắng khuyên giải bà Rosalie vợ của mình lên thuyền cứu hộ thì bà vẫn một mực từ chối. Bà nói: “Bao nhiêu năm qua, anh đi đâu là em theo đến đó, em sẽ cùng anh đi đến bất cứ nơi nào mà anh muốn đi”.
Sau đó, ông choàng lấy cánh tay của bà Rosalie, thong thả bước đến chiếc ghế trên boong tàu, ngồi xuống và chờ đợi giây phút cuối cùng của cuộc đời. Ngày nay, tại Bronx thành phố New York, người ta xây một tượng đài để tưởng niệm vợ chồng ông Strauss, trên đó khắc hàng chữ: “Tình yêu không thể nào nhấn chìm dù có nhiều nước biển hơn nữa”.
Một doanh nhân người Pháp tên Nahuatl đưa hai cậu con trai của mình lên thuyền cứu hộ, nhờ một vài người phụ nữ chăm sóc cho chúng, và mình thì từ chối lên thuyền. Sau khi hai đứa con trai được cứu sống, báo chí khắp nơi trên thế giới đều rầm rộ đăng hình ảnh của hai đứa trẻ này, cho đến khi mẹ của chúng từ hình ảnh nhận ra được chúng.
Trong giờ phút nguy kịch, Lydepas ôm chặt lấy người chồng mới cưới, không muốn thoát chết một mình. Vì bất đắc dĩ, chồng Lydepas phải đấm cô ngất xỉu, khi cô tỉnh lại thì đã thấy mình trên một chiếc thuyền cứu hộ đang trôi lênh đênh ngoài biển. Về sau, Lydepas cả đời không tái giá, sống độc thân để hoài niệm người chồng đã mất của mình.
Trong buổi họp mặt những người may mắn sống sót tại Lausanne nước Thụy Sĩ, bà Smith kể lại: “Lúc đó hai đứa con của tôi được bế lên thuyền cứu hộ. Vì quá tải nên tôi không thể lên thuyền nữa, một người phụ nữ ngồi trên thuyền cứu hộ khi ấy đã đứng dậy rời khỏi chỗ ngồi, rồi đẩy tôi lên và hét lớn với tôi một câu: ‘Ngồi đi, những đứa trẻ không thể thiếu mẹ!’.” Bà hối tiếc vì lúc đó đã không hỏi tên người phụ nữ đó.
Những người thiệt mạng trong vụ tai nạn này còn có tỷ phú Acid, nhà báo nổi tiếng Stead, Thiếu tá pháo binh Bart, kỹ sư Robble nổi tiếng v.v.. Họ nhường chỗ của mình trên thuyền cứu hộ, cho những phụ nữ nông dân không một đồng trên người.
Hơn 50 nhân viên cấp cao trên tàu Titanic, ngoài thuyền phó thứ hai Charles Lightoller chỉ huy cứu hộ may mắn sống sót, toàn bộ đều hết mình cứu người đến chết trong cương vị của mình.
Khoảng 2h sáng nhân viên điện báo số 1 John Philip nhận được mệnh lệnh bỏ tàu của thuyền trưởng, mọi người tự mình cứu mình, nhưng ông vẫn ngồi trong phòng thông báo, vẫn giữ tư thế phát tín hiệu SOS liên tục cho đến phút cuối cùng.
Khi đuôi tàu bắt đầu chìm xuống nước, Charles nghe thấy vào khoảnh khắc cuối cùng, khoảnh khắc của sinh ly tử biệt, những lời yêu thương vang lên: “I love you! I love you!”
Trong bức màn đêm đen tối nhuốm đẫm đau khổ và chia ly, tinh thần quý tộc nổi lên như ngọn đuốc rực sáng, khắc họa nên một tuyệt tác vĩ đại về nhân cách và đạo đức con người. Giáo dục lối sống không chỉ là lý thuyết; mà trong những hoàn cảnh thực tế, những bài học đạo đức ăn sâu vào tâm thức trở thành kim chỉ nam cho hành động của mỗi người.
Phụ nữ và trẻ em, những con người yếu đuối cần được tôn trọng và ưu tiên. Những người đàn ông lịch lãm không chỉ là kẻ nói lời hoa mỹ và tử tế trên bàn tiệc; mà ngay cả khi đối diện với thực tế rằng dù ngày mai tất cả đều trở thành vô nghĩa thì bài học về đạo đức và nhân cách hôm nay vẫn cần được thực hành một cách tuyệt đối.
Nhân sinh như cõi mộng, dù cho người đó giàu có bao nhiêu hay nghèo kém cỡ nào, đứng trước sinh tử cũng đều chỉ là một sinh mệnh bé nhỏ. Quan trọng hơn, khi ấy người ta mới thật sự nhận ra điều quan trọng nhất của cuộc đời: Không phải vật chất, không phải quyền danh càng không phải nhận lại điều gì cho mình mà là cho người khác, là vị tha.
Vị tha hàm chứa một sức mạnh vô tỉ, đã biến những con người xấu số trong cơn “bão biển” kinh hoàng năm ấy trở thành biểu tượng vĩ đại của tấm lòng thiện lương cao cả.

Theo Internet

 ÔNG TÌM RA THỨ ÁNH SÁNG VÔ HÌNH CÓ THỂ XUYÊN QUA CƠ THỂ CON NGƯỜI… VÀ THAY ĐỔI NỀN Y HỌC MÃI MÃI.

Có những khoảnh khắc trong lịch sử không bắt đầu bằng một kế hoạch vĩ đại…Mà bắt đầu từ một câu hỏi:

“Tại sao?”

Wilhelm Conrad Röntgen là một người như thế.

Ông không tạo ra một cỗ máy khổng lồ. Không chinh phục thế giới bằng sức mạnh. Ông chỉ đứng trong một phòng thí nghiệm… và tò mò về một thứ mà không ai nhìn thấy được.

Nhưng chính sự tò mò đó…
đã thay đổi cách con người nhìn về chính cơ thể mình mãi mãi.

1️⃣ MỘT NHÀ KHOA HỌC ÂM THẦM ĐI TÌM CÂU TRẢ LỜI.

Röntgen sinh năm 1845 tại Đức. Cuộc đời ông không bắt đầu như một huyền thoại. Ông không phải người luôn được chú ý. Không phải cái tên nổi tiếng ngay từ đầu. Nhưng ông có một phẩm chất đặc biệt:
Ông không dễ dàng bỏ qua những điều kỳ lạ.

Trong phòng thí nghiệm, khi nghiên cứu về tia điện và ống tia âm cực…ông phát hiện một hiện tượng khó giải thích:

Một màn hình ở gần đó phát sáng dù bị che chắn. Có thứ gì đó đang đi xuyên qua vật chất…nhưng mắt người không thể nhìn thấy.

2️⃣ ÔNG TÌM RA THỨ VÔ HÌNH CÓ THỂ NHÌN XUYÊN QUA CẢ CƠ THỂ CON NGƯỜI.

Röntgen gọi phát hiện mới của mình là:

👉 Tia X.

Một loại tia bí ẩn mà ông chưa hiểu hết. Nhưng ông biết một điều:
Nó có khả năng xuyên qua nhiều vật chất…và tạo ra hình ảnh bên trong cơ thể.

Lần đầu tiên trong lịch sử:
Con người có thể nhìn thấy xương bên trong bàn tay mà không cần mổ.

Một điều tưởng như chỉ có trong trí tưởng tượng…đã trở thành hiện thực.
Và từ đó, y học bước sang một kỷ nguyên mới.

3️⃣ ÔNG KHÔNG CHỈ PHÁT HIỆN RA MỘT LOẠI TIA…ÔNG MỞ RA MỘT CÁNH CỬA MỚI CHO NHÂN LOẠI.

Ngày nay, công nghệ X-quang đã trở thành một phần không thể thiếu của y học....
Những ca gãy xương.
Những căn bệnh ẩn bên trong cơ thể.
Những thứ trước đây con người không thể biết…
giờ đây có thể được nhìn thấy.

Điều đặc biệt là:
Röntgen không giữ phát hiện đó cho riêng mình. Ông không cố gắng biến nó thành tài sản cá nhân. Ông chia sẻ công trình để nhân loại có thể tiếp tục phát triển nó.

Năm 1901, ông trở thành người đầu tiên nhận Giải Nobel Vật lý. Nhưng điều khiến ông được nhớ đến không chỉ là giải thưởng…
mà là việc ông đã giúp con người nhìn thấy một thế giới vốn luôn tồn tại nhưng chưa từng được khám phá.

💡 BÀI HỌC CUỘC SỐNG.

Khi tìm hiểu câu chuyện về Wilhelm Conrad Röntgen, mình nhận ra rằng:

Đôi khi điều thay đổi cuộc đời bạn…
không phải là bạn biết nhiều hơn người khác. Mà là bạn đủ tò mò để không bỏ qua những điều người khác xem là bình thường.

Hàng triệu người nhìn thấy một hiện tượng kỳ lạ. Nhưng chỉ một người dừng lại và hỏi:

“Tại sao nó xảy ra?”
Và câu hỏi đó đã thay đổi lịch sử.

Trong cuộc sống cũng vậy. Có thể hôm nay bạn đang có một ý tưởng mà người khác cho là nhỏ bé. Một khả năng mà chưa ai nhìn thấy. Một con đường mà chưa ai tin tưởng….

Đừng vội bỏ qua nó.

Bởi những điều lớn lao thường không bắt đầu bằng những câu trả lời vĩ đại…
mà bắt đầu bằng một câu hỏi đủ mạnh.

Hãy tiếp tục học hỏi.
Tiếp tục tò mò.
Tiếp tục khám phá.

Vì đôi khi, thứ thay đổi tương lai của bạn đang nằm ngay trong một điều nhỏ bé mà bạn chưa từng chú ý đến. 💪

✨ Trí tuệ Vĩ nhân - không chỉ là câu chuyện của những người thay đổi thế giới,
mà còn là lời nhắc rằng: chính bạn cũng có thể bắt đầu hôm nay. 🌍

Bài viết bởi Trần Hường - người kể chuyện về các bậc vĩ nhân và lắng nghe ánh sáng trí tuệ họ để lại trong từng bài học cuộc đời.

Vespa 80 năm: khi một chiếc xe nhỏ chở cả nước Ý đi qua lịch sử
Rome vừa có một màn tụ họp rất “Ý”: hàng nghìn chiếc Vespa từ khắp nơi trên thế giới cùng chạy qua những con phố cổ để mừng sinh nhật 80 năm của biểu tượng ra đời từ năm 1946. Tiếng máy nho nhỏ, dáng xe mềm mại, màu sơn cổ điển và những người lái đến từ đủ quốc gia khiến thủ đô Italy trông như một thước phim sống động về ký ức hậu chiến.
Vespa được Piaggio giới thiệu sau Thế chiến thứ hai, khi nước Ý cần một phương tiện rẻ, gọn, dễ dùng để bắt đầu lại cuộc sống. Lúc đó chắc chẳng ai nghĩ một chiếc xe sinh ra từ nhu cầu rất thực tế lại trở thành biểu tượng văn hóa. Piaggio vốn làm máy bay, nên thiết kế Vespa cũng chịu ảnh hưởng từ đó: thân thép liền khối, dáng bo tròn, sàn để chân phẳng, động cơ đặt gọn phía sau để người lái không bị bẩn quần áo. Người thiết kế, kỹ sư Corradino D’Ascanio, thậm chí còn không thích mô tô truyền thống vì chúng nặng, bẩn và bất tiện. Ông tạo ra một chiếc xe dành cho đời sống đô thị, cho cả nam lẫn nữ, cho váy áo thanh lịch lẫn những con phố đá hẹp của Rome.
Tên gọi Vespa cũng khá thú vị. Khi Enrico Piaggio nhìn nguyên mẫu đầu tiên, ông được cho là đã nói: “Trông như một con ong bắp cày.” Và thế là cái tên Vespa — nghĩa là ong bắp cày trong tiếng Ý — ra đời, gắn bó với hàng chục triệu người trên khắp thế giới.
Vespa giúp người Ý đi lại. Nó còn mang theo tinh thần hồi sinh của một đất nước vừa bước ra khỏi đổ nát. Sau chiến tranh, khi nhiều gia đình chưa đủ tiền mua ô tô, Vespa mang lại cảm giác tự do riêng: đi làm, đi hẹn hò, đi biển, chạy qua những quảng trường đầy nắng. Từ một phương tiện bình dân, nó dần trở thành hình ảnh của nước Ý mới: trẻ trung hơn, nhẹ nhàng hơn, tự tin hơn.
Điện ảnh cũng góp phần biến Vespa thành huyền thoại toàn cầu. Năm 1953, Roman Holiday đưa Audrey Hepburn và Gregory Peck chạy Vespa vòng quanh Rome, tạo nên một trong những cảnh phim lãng mạn nhất lịch sử. Từ đó, hình ảnh Vespa gắn liền với những con phố cổ, quảng trường và nhịp sống chậm rãi của Italy. Sau này, Vespa còn xuất hiện trong La Dolce Vita, The Talented Mr. Ripley, Luca và nhiều sản phẩm văn hóa đại chúng khác.
Lễ kỷ niệm tại Rome kéo dài bốn ngày, với Vespa Village ở Foro Italico, các buổi gặp mặt của câu lạc bộ Vespa, trưng bày xe cổ và màn diễu hành lớn qua thành phố. Thị trưởng Rome Roberto Gualtieri gọi Vespa là biểu tượng của lịch sử và văn hóa Ý, vì câu chuyện của nó gần như đi cùng với sự trỗi dậy của Italy sau chiến tranh. Từ chiếc Vespa 98 đầu tiên đến những phiên bản hiện đại, Piaggio đã tiến gần mốc 20 triệu xe và đưa Vespa đến khoảng 100 quốc gia.
Điều khiến Vespa vẫn tồn tại bền bỉ là nó không cố trở thành thứ gì khác ngoài chính nó. Giữa thời đại xe điện và công nghệ hiện đại, Vespa vẫn giữ những đường cong đặc trưng và phong cách riêng. Nó không nhấn mạnh vào tốc độ mà gợi một cách di chuyển chậm rãi, quan sát và tận hưởng không gian xung quanh.
Vì vậy, 80 năm của Vespa là sinh nhật của một mẫu xe. Nó cũng là dấu mốc của một hành trình dài, từ một phương tiện thiết thực trở thành biểu tượng văn hóa. Một chiếc Vespa có thể không lớn, nhưng câu chuyện của nó lại gắn với cả một giai đoạn lịch sử và cách con người tìm lại nhịp sống sau biến động.










CHÀO MỪNG QUÝ THẦY CÔ VÀ ĐỒNG MÔN TRƯỜNG HOÀNG DIỆU SÓC TRĂNG THAM QUAN, ỦNG HỘ HOANGDIEUTRUONGXUASAIGON.BLOGSPOT.COM. CHÚC THẦY CÔ VÀ ANH CHỊ EM NHIỀU SỨC KHỎE, THÀNH CÔNG TRONG CÔNG VIỆC.