.

.

a

Hoa đào nở, chim én về, mùa xuân lại đến. Chúc quý thầy cô và anh chị em đồng môn năm mới Bính Ngọ 2026 : - nghìn sự như ý, vạn sự như mơ, triệu sự bất ngờ, tỷ lần hạnh phúc.
THƯƠNG CHÚC THẦY CÔ, ANH CHỊ EM ĐỒNG MÔN TRƯỜNG HOÀNG DIỆU - MỘT NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026 AN KHANG THỊNH VƯỢNG - VẠN SỰ NHƯ Ý

15 tháng 7 2026

Súng thần công đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam ra sao?

 Sau nhiều thế kỷ gắn liền với cung nỏ, giáo mác và máy bắn đá, sự xuất hiện của súng thần công đã mở ra một cuộc cách mạng trong lịch sử quân sự Việt Nam.

Suốt nhiều thế kỷ đầu của lịch sử, các cuộc chiến tranh tại Việt Nam chủ yếu dựa vào vũ khí lạnh như gươm, giáo, cung nỏ, cùng các loại máy bắn đá hoặc hỏa khí sơ khai như hỏa tiễn và hỏa cầu. Tuy nhiên, từ cuối thế kỷ XIV, sự xuất hiện của thuốc súng và pháo đồng đã tạo nên một bước ngoặt lớn trong nghệ thuật quân sự. Mặc dù khó xác định chính xác khẩu thần công đầu tiên được chế tạo hoặc sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam vào thời điểm nào, các tư liệu lịch sử đều cho thấy loại vũ khí này bắt đầu xuất hiện vào giai đoạn chuyển tiếp giữa nhà Trần và nhà Hồ, đánh dấu sự mở đầu của kỷ nguyên hỏa khí tại Đại Việt.

Hồ Nguyên Trừng và trình độ đúc súng thần công của người Việt

Ngược dòng thời gian, thuốc súng được phát minh ở Trung Quốc vào khoảng thế kỷ IX và dần được ứng dụng vào quân sự từ thời nhà Tống. Ban đầu, người ta sử dụng thuốc súng để chế tạo hỏa thương, hỏa tiễn và các loại bom cháy. Đến thế kỷ XIII, dưới thời nhà Nguyên, kỹ thuật đúc pháo bằng đồng và gang phát triển mạnh, cho phép tạo ra những khẩu pháo có khả năng phóng đạn bằng sức nổ của thuốc súng. Nhờ các tuyến giao thương, chiến tranh và giao lưu kỹ thuật, công nghệ này nhanh chóng lan rộng sang Triều Tiên, Nhật Bản, Đông Nam Á và cả châu Âu.

Đại Việt, với vị trí nằm giữa mạng lưới giao lưu của khu vực, nhiều khả năng đã tiếp cận công nghệ thuốc súng khá sớm. Một số ghi chép của Trung Quốc cho thấy quân Trần từng sử dụng các loại hỏa khí trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên vào thế kỷ XIII, nhưng đó chủ yếu là những loại vũ khí phun lửa hoặc bom thuốc súng chứ chưa phải pháo thần công theo đúng nghĩa. Những khẩu pháo bằng kim loại có khả năng bắn đạn với tầm xa và uy lực lớn chỉ thực sự được ghi nhận rõ ràng vào cuối thế kỷ XIV.

Nhân vật gắn liền với sự xuất hiện của súng thần công ở Việt Nam là Hồ Nguyên Trừng, con trai trưởng của Hồ Quý Ly. Là một nhà quân sự và kỹ sư tài năng, Hồ Nguyên Trừng đặc biệt quan tâm đến việc cải tiến hỏa khí nhằm đối phó với các mối đe dọa từ bên ngoài. Theo nhiều bộ sử như Đại Việt sử ký toàn thưNam Ông mộng lục, ông đã chỉ huy việc chế tạo nhiều loại vũ khí mới, trong đó nổi tiếng nhất là "thần cơ sang pháo" – một dạng đại bác sơ khai được xem là tiền thân của súng thần công ở Việt Nam.

Tên gọi "thần cơ" mang ý nghĩa ca ngợi sự kỳ diệu và sức mạnh của loại vũ khí mới. Các khẩu pháo này thường được đúc bằng đồng hoặc hợp kim đồng, có chiều dài từ vài chục centimet đến hơn một mét tùy loại. Đạn pháo ban đầu chủ yếu là đá hoặc bi kim loại, được đẩy đi nhờ sức nổ của thuốc súng. So với cung nỏ hay máy bắn đá, thần công có ưu thế vượt trội về sức xuyên phá, khả năng gây tiếng nổ lớn tạo hiệu ứng tâm lý và phá vỡ đội hình đối phương.

Việc chế tạo thần công không chỉ đòi hỏi hiểu biết về thuốc súng mà còn yêu cầu trình độ luyện kim rất cao. Đại Việt vốn đã có truyền thống đúc đồng từ thời Đông Sơn và tiếp tục phát triển mạnh qua các triều đại Lý, Trần. Chính nền tảng kỹ thuật này đã tạo điều kiện để những người thợ thủ công có thể đúc các nòng pháo đủ dày nhằm chịu được áp lực của vụ nổ. Đây là một thành tựu công nghệ đáng chú ý, bởi chỉ cần sai sót nhỏ trong quá trình đúc, khẩu pháo có thể nổ tung ngay khi khai hỏa.

Tuy nhiên, thời gian mà nhà Hồ nắm quyền quá ngắn để phát huy tối đa ưu thế của loại vũ khí mới. Năm 1406, quân Minh tiến hành xâm lược Đại Việt. Mặc dù quân đội nhà Hồ sở hữu nhiều thần công và các loại hỏa khí tiên tiến, họ vẫn thất bại vì nhiều nguyên nhân như sự thiếu ổn định về chính trị, chiến lược quân sự chưa phù hợp và không giành được sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân. Điều này cho thấy công nghệ quân sự hiện đại không thể thay thế hoàn toàn các yếu tố về tổ chức, hậu cần và lòng dân.


Súng thần công thời Lê Trung hưng, thế kỷ 17. Ảnh: Quốc Lê.

Sau khi nhà Hồ sụp đổ, Hồ Nguyên Trừng bị đưa sang Trung Quốc. Điều đặc biệt là thay vì bị xử tử, ông được triều Minh trọng dụng nhờ tài năng chế tạo hỏa khí. Hồ Nguyên Trừng được giao phụ trách các xưởng sản xuất pháo và góp phần cải tiến kỹ thuật đúc thần công của nhà Minh. Chính ông sau này đã viết Nam Ông mộng lục, một tác phẩm văn học đồng thời chứa đựng nhiều tư liệu quý về xã hội và kỹ thuật Đại Việt cuối thế kỷ XIV. Việc một kỹ sư quân sự của Đại Việt được giao trọng trách trong ngành chế tạo pháo của một đế quốc lớn cho thấy trình độ kỹ thuật mà ông cùng các cộng sự đã đạt được.

Đỉnh cao của nghệ thuật đúc thần công

Trong các thế kỷ tiếp theo, súng thần công ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quân đội Việt Nam. Thời Lê sơ, triều đình tiếp tục duy trì các xưởng đúc pháo. Đến thời Mạc, Trịnh – Nguyễn phân tranh, cả hai bên đều tích cực phát triển pháo binh, đồng thời tiếp thu kỹ thuật từ các thương nhân và chuyên gia Bồ Đào Nha, Hà Lan. Những khẩu thần công cỡ lớn được bố trí trên thành lũy, tàu chiến và các pháo đài ven biển, góp phần tạo nên nhiều hệ thống phòng thủ nổi tiếng.

Đỉnh cao của nghệ thuật đúc thần công truyền thống có lẽ thuộc về triều Nguyễn. Dưới thời vua Gia Long và Minh Mạng, triều đình cho đúc hàng trăm khẩu đại bác bằng đồng với kích thước và chất lượng rất cao. Tiêu biểu nhất là Cửu vị Thần công tại Kinh thành Huế, được đúc từ năm 1803 đến 1804. Những khẩu thần công này phản ánh quá trình phát triển liên tục của kỹ thuật chế tạo thần công tại Việt Nam suốt hơn bốn thế kỷ.

Ngày nay, không còn khẩu pháo nào thuộc thời Hồ còn tồn tại nguyên vẹn, khiến việc nghiên cứu giai đoạn đầu của hỏa khí Việt Nam gặp nhiều khó khăn. Các nhà sử học chủ yếu dựa vào thư tịch cổ, hiện vật khảo cổ và việc so sánh với những khẩu pháo cùng thời ở Trung Quốc và Đông Nam Á để tái dựng lịch sử. Dù vẫn còn nhiều câu hỏi chưa có lời giải dứt khoát, phần lớn các nghiên cứu đều thống nhất rằng cuối thế kỷ XIV là thời điểm súng thần công bắt đầu được sử dụng có hệ thống tại Đại Việt, với Hồ Nguyên Trừng giữ vai trò trung tâm trong quá trình phát triển loại vũ khí này.

Sự xuất hiện của súng thần công không chỉ đánh dấu một bước tiến về công nghệ quân sự mà còn phản ánh khả năng tiếp thu, cải tiến và sáng tạo của người Việt trước những thành tựu khoa học từ bên ngoài. Từ những khẩu "thần cơ sang pháo" đầu tiên đến các đại bác đồ sộ của triều Nguyễn, lịch sử thần công Việt Nam là minh chứng cho sự kết hợp giữa truyền thống luyện kim lâu đời với nhu cầu đổi mới trong chiến tranh. Đó cũng là một trong những cột mốc quan trọng đưa Đại Việt bước vào thời đại của hỏa khí, làm thay đổi sâu sắc nghệ thuật quân sự trong nhiều thế kỷ tiếp theo.

Thanh Bình /Tri Thức & Cuộc Sống


Langbian: châu báu ở Đông Dương
Trong một cuốn sách viết về du lịch xuất bản năm 1920 của hai tác giả Pháp Bouvard và Millet, cao nguyên Langbian được đánh giá là “châu báu” ở Đông Dương về du lịch (nguyên bản tiếng Pháp: Langbian - joyau touristique de l’Indochine). Bác sĩ Yersin và các nhà thám hiểm đầu tiên đều kinh ngạc trước phong cảnh rất tương đồng với Châu Âu nơi đây. Cao nguyên Langbian đáp ứng tất cả các điều kiện để trở thành một khu nghỉ dưỡng trên núi ở xứ nhiệt đới…
Cuối thế kỉ 19, sau khi chiếm được Nam Kì, chính quyền Pháp ở Nam Kì đã có nhiều cuộc thăm dò, khảo sát vùng đất Tây Nguyên. Chuyến thám hiểm đầu tiên vào năm 1881 do bác sĩ Paul Neis và trung uý Albert Septans thực hiện. Tiếp theo là nhiều chuyến đi khác từ năm 1882 đến 1889.
Bác sĩ Yersin không phải là người đầu tiên khám phá cao nguyên Langbian, nhưng chuyến thám hiểm năm 1893 của ông có ý nghĩa quyết định, được coi là tiền đề cho việc khai sinh Đà Lạt[1].
Năm 1897, theo yêu cầu khảo sát tìm kiếm một địa điểm để xây dựng khu nghỉ dưỡng trên dãy Trường Sơn của Toàn quyền Đông Dương Doumer, bác sĩ Yersin đã ngay lập tức đề xuất cao nguyên Langbian vì nó hội tụ các tiêu chí cho một khu nghỉ dưỡng như độ cao phù hợp, đủ không gian, khí hậu ôn hoà, nguồn nước dồi dào và có thể dễ dàng đi đến. Hai đoàn khảo sát đã đến hiện trường là phái đoàn Thouars và phái đoàn Garnier. Một đoàn có nhiệm vụ vạch sơ đồ tuyến đường sắt và một đoàn chịu trách nhiệm về đường bộ.
Vào thời điểm đó, nơi đây chẳng có đường đi và công trình xây dựng nào. Kể từ sau năm 1899, khi viên Toàn quyền đến cao nguyên Langbian, đã quyết định xây một khu nghỉ dưỡng ở nơi đây. Năm 1901, phái đoàn y tế Guynet đã đề xuất địa điểm là Đà Lạt và một số nhà gỗ được xây dựng ngay sau đó.
Quyết định xây một khu nghỉ dưỡng ở Đà Lạt của Toàn quyền Doumer đã đưa ra. Tuy nhiên, trong thời gian dài, quyết định này không được triển khai cho đến khi Toàn quyền Albert Sarraut tới Đông Dương. Nhận thấy tầm quan trọng của khu nghỉ dưỡng, ông đã ngay lập tức đã cấp kinh phí để xây dựng đường sá, nhà cửa, hệ thống giao thống nối liền Sông Pha với Đà Lạt, chạy qua đèo Ngoạn Mục.[2]
Hầu hết những người châu Âu đầu tiên đến nghỉ ở Đà Lạt vào năm 1915 là những người phải ở lại Đông Dương do chiến tranh. Họ đến đây để nghỉ dưỡng sau thời gian dài buộc phải ở thuộc địa. Sau đó, Toàn quyền Roume đã quyết định xây dựng khách sạn Langbian - Palace. Năm 1917, Toàn quyền Roume ra quyết định xây dựng khu nghỉ dưỡng trên núi, cấp kinh phí xây dựng đường sá và các công trình đầu tiên ở đây.[3] Song vì lí do khủng hoảng tài chính và nhiều khó khăn khác[4] nên khu vực này đã bị “quên lãng” trong nhiều năm. Đà Lạt không còn được nhắc đến nữa.
Do địa thế tự nhiên của Đà Lạt nên giao thông gặp nhiều khó khăn. Phương tiện đi lại của hành khách lên Đà Lạt đầu thế kỉ 20 chủ yếu bằng ô tô. Điều này hạn chế lớn số lượng du khách đến với Đà Lạt. Ý thức được những khó khăn trên, ngay từ năm 1898, Chính phủ Pháp đã đưa ra kế hoạch xây dựng đường sắt lên cao nguyên Langbian để có điều kiện khai thác hiệu quả một vùng rộng lớn. Tuy nhiên, phải đến năm 1921, Chính quyền Pháp mới khởi động lại kế hoạch xây dựng đường sắt lên cao nguyên Langbian. Tuyến đường sắt răng cưa này hoàn thành sau 10 năm, đánh dấu bước khởi đầu cho phát triển du lịch tại đây.
Năm 1922, Toàn quyền Maurice Long giao cho nhà quy hoạch Hébrard lập đồ án quy hoạch thành phố. Năm 1923, bản đồ quy hoạch Đà Lạt của Hébrard được phê duyệt. Sau đó, rất nhiều công trình xây dựng được thực hiện tại thành phố xinh đẹp, thơ mộng này… Đà Lạt trở thành nơi nghỉ mát lớn nhất Đông Dương và là một trung tâm săn bắn thu hút nhiều du khách.
Ý định đặt thủ đô hành chính của Đông Dương tại Đà Lạt
Vào những năm 30 của thế kỉ 19, hệ thống giao thông lên cao nguyên Langbian đã hoàn thiện và nhiều công trình đã được xây dựng. Thời điểm này báo chí đề cập rất nhiều về vấn đề đặt thủ đô của Liên bang Đông Dương ở Đà Lạt. Lúc bấy giờ, trụ sở của Phủ Toàn quyền Đông Dương đặt tại Hà Nội. Tuy nhiên trên thực tế, Toàn quyền Đông Dương vẫn thường làm việc tại cả 3 thành phố (Sài Gòn, Hà Nội và Đà Lạt).
Trong bài viết “Đà Lạt, thủ đô hành chính của Đông Dương?”[6], tác giả Pineau đã phân tích rất chi tiết về những điều kiện để lựa chọn thủ đô của các quốc gia như: Các nhân tố về lịch sử, địa lí, chính trị; xu hướng phát triển theo chế độ tập trung, xu hướng phát triển ra biển… Theo đó, Đà Lạt cũng cần đáp ứng được các điều kiện chung mới có thể trở thành thủ đô hành chính của Liên bang Đông Dương.
Tác giả đề cập đến quá trình lịch sử hình thành Đà Lạt từ năm 1893 đến 1932. Trong suốt 40 năm hình thành và phát triển, Đà Lạt đã có nhiều thay đổi. Thành phố Đà Lạt đã được quy hoạch. Giao thông đường bộ và đường sắt được cải thiện rõ rệt.
Trong bản đồ quy hoạch và mở rộng Đà Lạt năm 1932 đã có kế hoạch biến Đà Lạt thành thủ đô hành chính của Đông Dương. Tuy nhiên, vào mùa hè năm 1932, ý định trên bị từ bỏ, thay thế băng một chương trình quy hoạch mở rộng giới hạn ở việc chỉnh trang khu nghỉ mát trên núi.
Ý tưởng lập thủ đô tại Đà Lạt không hề bị người Pháp lãng quên. Vấn đề này vẫn luôn được người Pháp nghiên cứu, cân nhắc. Trong bài viết của Pineau, tác giả đề cập đến các điều kiện để lựa chọn thủ đô như chế độ tập trung, an ninh, đường ra biển, điều kiện vệ sinh, vị trí địa lí.
Về vị trí, Đà Lạt nằm giữa Nam Kì và Nam Trung Kì, gần Cao Miên (Cambodge) và Bắc Lào, cách biển chỉ 150 km theo đường chim bay. Từ Sài Gòn lên Đà Lạt chỉ mất 5 giờ đi ô tô… Giao thông từ Đà Lạt lên cao nguyên Langbian, sang Campuchia, Lào, xuống sông Mê Kông đều thuận lợi. Chỉ duy có Bắc Kì là nằm xa Đà Lạt. Việc lựa chọn Đà Lạt đáp ứng được các điều kiện về xu hướng hiện đại theo chế độ tập trung và liên bang…
Để đi ra biển, từ Đà Lạt người ta có thể đi qua Sài Gòn. Tuy nhiên, đường sắt Sài Gòn-Đà Lạt khá xa và tốn kém. Trong khi đó, người ta có thể ra biển từ vịnh Cam Ranh, một nơi tuyệt đẹp, kín đáo, an toàn và dễ phòng thủ.
�Vấn đề an ninh ở đây không còn đặt ra từ đâu thế kỉ (thế kỉ 19)…. Đà Lạt an toàn hơn Hà Nội. Một thủ đô không chỉ là trung tâm chi phối tư tưởng và hoạt động chính trị mà còn là một kho sức mạnh vật chất và tinh thần. Ngoài yếu tố tự nhiên, khi lập thành phố, nhân tố con người vẫn mang tính quyết định.
Toàn quyền Jean Decoux ngay sau khi nhậm chức (1940) đã bắt tay thực hiện ý tưởng của các vị tiền nhiệm đó là biến Đà Lạt thành thủ đô hành chính Đông Dương. Ông đã giao cho kiến trúc sư Lagisquet - trưởng phòng kiến trúc và quy hoạch đô thị - thiết lập đồ án chỉnh trang và mở rộng Đà Lạt.
Sau 20 năm kể từ đồ án quy hoạch lần đầu được thông qua, thành phố Đà Lạt lại được quy hoạch và chỉnh trang theo Nghị định của Toàn quyền Đông Dương ngày 26/4/1943. Theo bản đồ quy hoạch, khu trung tâm Đà Lạt được chia thành 15 khu: Dinh Toàn quyền Đông Dương, văn phòng, sòng bạc, khách sạn, trung tâm văn hóa và thư viện, ngân hàng, trung tâm thương mại châu Âu, nhà thờ, sở cảnh sát, trung tâm hành chính địa phương, chợ, trung tâm thương mại bản ngữ, khách sạn thành phố, rạp chiếu bóng...
Cùng với ý định biến Đà Lạt thành thủ đô hành chính của Đông Dương, đồ án quy hoạch cũng chưa được hoàn tất cho đến năm 1945. Tuy nhiên, các kế hoạch do người Pháp thực hiện đã khiến Đà Lạt trở thành một thành phố tuyệt đẹp của vùng Viễn Đông lúc bấy giờ.
[1] Đà Lạt, Et la carte créa la ville….
[2] Petit guide, Andre Bon, 1930.
[3] Madrolle, Guide, 1926.
[4] Khủng hoảng tài chính và khó khăn trong thời gian Thế chiến thứ Nhất.
[5] Petit guide, Andre Bon, 1930.
[6] Dalat, capitale administrative de I'Indinechine?, PINEAU, Revue juridique et économique de I'Indochine, 1937, p.46-81.
Đỗ Hoàng Anh
Nguồn: Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia

Đại gia bí ẩn chi 50,1 triệu USD mua hóa thạch khủng long bạo chúa

Một bộ hóa thạch khủng long bạo chúa Tyrannosaurus rex - được cho là một trong những mẫu vật lớn nhất và hoàn chỉnh nhất thế giới - đã được bán với giá kỷ lục 50,1 triệu USD cho một người mua giấu tên.


Bộ xương hóa thạch "Gus". (Ảnh: AP)

Nhà đấu giá Sotheby's cho biết, bộ hóa thạch 67 triệu năm tuổi, được đặt biệt danh "Gus", hiện là bộ xương khủng long đắt nhất từng được bán đấu giá, vượt qua mức giá gần 45 triệu USD của một bộ xương khủng long Stegosaurus gần như hoàn chỉnh được bán vào năm 2024. Kỷ lục trước đó thuộc về bộ xương khủng long bạo chúa Tyrannosaurus rex có đặt biệt danh "Stan", được bán với giá gần 32 triệu USD vào năm 2020.

"Gus không chỉ là một phát hiện đặc biệt, mà còn là một mẫu vật được khai quật, ghi chép, chuẩn bị và bảo quản một cách xuất sắc”, Cassandra Hatton - Phó Chủ tịch của Sotheby's - cho biết sau khi cuộc bán đấu giá hoàn tất. "Thị trường phản ứng tích cực khi các mẫu vật tuyệt vời được chăm sóc đúng cách”.

Đứng thẳng với đuôi duỗi dài và chân phải hơi nhấc lên, “Gus” là một mẫu vật khủng long trưởng thành cao khoảng 3,8 m và dài 11,5 m.

Bộ hóa thạch này được bảo tồn khoảng 61%, với hộp sọ mà Sotheby’s mô tả là “được bảo quản đặc biệt tốt”, bao gồm cả hàm răng chắc khỏe, hai bàn chân “được thể hiện rõ ràng” và một số xương hiếm gặp, bao gồm cả xương đòn.

Bộ hóa thạch này được phát hiện vào năm 2021 tại một trang trại ở Nam Dakota và được đặt tên để vinh danh chủ sở hữu bất động sản Gary Licking, người đã qua đời trong quá trình khai quật, phục chế và lắp ráp kéo dài khoảng 5 năm.

Nhà đấu giá cho biết người thắng cuộc - tham gia đấu giá qua điện thoại và muốn giấu tên - đã trả giá cao hơn 6 người mua tiềm năng khác trong cuộc đấu giá kéo dài 10 phút hôm 14/7. Trước khi bán, bộ hóa thạch này được ước tính sẽ thu về từ 20 đến 30 triệu USD.

Hiệp hội Cổ sinh vật học có xương sống - một nhóm vận động gồm các nhà khoa học, học giả và sinh viên - cho biết, các hóa thạch có ý nghĩa khoa học như “Gus” nên được trưng bày công khai tại các bảo tàng và các viện nghiên cứu để chúng có thể được “bảo tồn, ghi chép và tiếp cận bởi thế hệ tương lai”.

Tyrannosaurus rex, tên gọi có nghĩa là “Vua của loài thằn lằn bạo chúa”, đã đứng vững ở đỉnh chuỗi thức ăn khi thống trị vào cuối kỷ Phấn trắng.

Với hàm răng đáng sợ và cánh tay ngắn ngủn hài hước, Tyrannosaurus rex đã trở thành loài khủng long dễ nhận biết và được yêu thích nhất.

Theo Sotheby's, loài thú khổng lồ này từng lang thang khắp vùng đất ngày nay là phía tây Bắc Mỹ, vào thời điểm khu vực này có "khí hậu ấm áp, mực nước biển cao và vùng đồng bằng ven biển màu mỡ", tạo điều kiện cho con mồi chính của chúng - những loài ăn cỏ khổng lồ như khủng long ba sừng - phát triển mạnh.


Minh Hạnh


ADN cổ đại – 'cỗ máy thời gian' đang viết lại lịch sử loài người

Từ những mẩu xương vụn và chiếc răng hóa thạch, các nhà khoa học đang dần viết lại nhiều chương quan trọng trong lịch sử loài người.

Trong nhiều thế kỷ, hiểu biết về quá khứ chủ yếu dựa vào khảo cổ học, hiện vật và các văn bản cổ. Tuy nhiên, khoảng hai thập kỷ trở lại đây, sự phát triển của công nghệ giải trình tự ADN cổ đại (ancient DNA) đã mở ra một cuộc cách mạng. Chỉ từ lượng ADN còn sót lại trong xương, răng hay tóc của những người đã qua đời từ hàng nghìn đến hàng chục nghìn năm trước, các nhà khoa học có thể xác định mối quan hệ huyết thống, nguồn gốc tổ tiên và cả những cuộc di cư quy mô lớn từng diễn ra.


Ảnh: nationalgeographic

Một trong những khám phá nổi tiếng nhất là việc xác nhận người hiện đại từng lai với người Neanderthal. Trước đây, hai loài người này được cho là gần như tách biệt. Thế nhưng phân tích ADN cho thấy hầu hết những người ngoài châu Phi ngày nay vẫn mang khoảng 1–2% ADN Neanderthal trong bộ gen của mình. Điều đó chứng minh hai nhóm đã gặp gỡ và sinh con với nhau hàng chục nghìn năm trước.


Ảnh: bigthink

ADN cổ đại còn dẫn đến việc phát hiện một nhóm người hoàn toàn mới: người Denisova. Năm 2010, từ một mảnh xương ngón tay nhỏ tìm thấy trong hang Denisova ở Siberia, các nhà khoa học giải mã được bộ gen của một loài người chưa từng được biết đến. Ngày nay, dấu vết ADN Denisova vẫn hiện diện ở nhiều cộng đồng tại châu Á và châu Đại Dương, đặc biệt là người Papua và một số dân tộc ở Tây Thái Bình Dương.

Không chỉ nghiên cứu tiến hóa, ADN cổ đại còn giúp giải đáp nhiều bí ẩn lịch sử. Các nhà nghiên cứu có thể xác định quan hệ họ hàng trong các ngôi mộ tập thể, truy tìm nguồn gốc của những cộng đồng cổ, tái dựng các đợt di cư thời tiền sử và theo dõi sự lan truyền của dịch bệnh như bệnh dịch hạch. Nhiều giả thuyết từng dựa chủ yếu vào hiện vật khảo cổ đã phải điều chỉnh sau khi có thêm bằng chứng di truyền.


Ảnh: culture.gouv

Tuy vậy, việc nghiên cứu ADN cổ đại không hề đơn giản. ADN phân hủy theo thời gian và rất dễ bị nhiễm ADN của con người hiện đại. Vì thế, các mẫu vật phải được xử lý trong phòng thí nghiệm vô trùng với quy trình nghiêm ngặt. Những vùng khí hậu lạnh và khô như Siberia hay các hang động thường bảo tồn ADN tốt hơn nhiều so với vùng nhiệt đới nóng ẩm.

Ngày nay, ADN cổ đại đã trở thành một trong những công cụ mạnh mẽ nhất để khám phá quá khứ. Mỗi bộ gen được giải mã giống như một mảnh ghép mới, giúp bức tranh về lịch sử loài người ngày càng rõ nét hơn. Điều từng được xem là sự thật lịch sử có thể được bổ sung hoặc điều chỉnh khi những bằng chứng di truyền tiếp tục hé lộ các câu chuyện đã ngủ yên suốt hàng thiên niên kỷ.

Thanh Bình Tổng Hợp

Gallium - kim loại kỳ lạ có thể tan chảy ngay trong lòng bàn tay

Thoạt nhìn, gallium giống như một mẩu kim loại bình thường, nhưng chỉ cần đặt lên lòng bàn tay, nó có thể từ từ hóa thành chất lỏng.

Gallium là nguyên tố hóa học mang số hiệu nguyên tử 31, được nhà hóa học người Pháp Paul-Émile Lecoq de Boisbaudran phát hiện vào năm 1875. Điều khiến gallium nổi tiếng là nhiệt độ nóng chảy chỉ khoảng 29,8°C. Con số này thấp hơn nhiệt độ cơ thể người, vì vậy nếu cầm một thỏi gallium nguyên chất trong tay, hơi ấm từ cơ thể sẽ đủ để làm nó tan chảy sau vài phút.


Ảnh: jayteealloys

Khác với thủy ngân luôn ở trạng thái lỏng trong điều kiện bình thường và có độc tính cao, gallium là kim loại rắn ở nhiệt độ phòng mát và có độc tính tương đối thấp khi tiếp xúc thông thường. Vì đặc tính độc đáo này, gallium thường được dùng trong các buổi trình diễn khoa học để minh họa rằng không phải mọi kim loại đều cứng và khó nóng chảy.


Ảnh: bs.unansea

Một điều thú vị khác là gallium có xu hướng nở ra khi đông đặc, tương tự nước khi đóng băng. Vì vậy, nếu để gallium lỏng đông cứng trong một chai thủy tinh kín, áp suất tạo ra có thể làm nứt hoặc vỡ vật chứa. Đây là lý do gallium thường được bảo quản trong các hộp hoặc túi chuyên dụng thay vì bình thủy tinh kín.

Gallium còn có một "siêu năng lực" khác: nó có thể thấm vào cấu trúc tinh thể của nhôm, làm nhôm mất gần như toàn bộ độ bền cơ học. Một thanh nhôm vốn rất cứng có thể trở nên giòn và gãy nếu bị gallium xâm nhập. Chính vì vậy, gallium không nên được bảo quản trong hộp hoặc dụng cụ bằng nhôm.


Ảnh: questoes.grancursosonline.com

Mặc dù hiếm khi được biết đến ngoài đời sống hằng ngày, gallium lại đóng vai trò quan trọng trong ngành điện tử hiện đại. Các hợp chất như gallium arsenide (GaAs) và gallium nitride (GaN) được sử dụng để chế tạo linh kiện điện tử tốc độ cao, đèn LED, laser bán dẫn, trạm phát sóng 5G, radar và nhiều thiết bị vệ tinh. Nhờ khả năng hoạt động hiệu quả ở tần số cao và nhiệt độ lớn, chúng đang dần trở thành vật liệu chiến lược trong nhiều lĩnh vực công nghệ.

Trái với suy nghĩ của nhiều người, gallium không quá hiếm trong vỏ Trái Đất, nhưng nó hầu như không tồn tại dưới dạng quặng riêng mà thường phân tán trong quặng nhôm và kẽm. Vì thế, gallium chủ yếu được thu hồi như một sản phẩm phụ trong quá trình luyện kim.

Từ một kim loại có thể tan chảy trong lòng bàn tay đến vật liệu nền tảng của ngành bán dẫn hiện đại, gallium là minh chứng rằng những nguyên tố tưởng chừng kỳ lạ nhất đôi khi lại đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống và công nghệ của con người.

Thanh Bình (tổng hợp)

Không có nhận xét nào:

CHÀO MỪNG QUÝ THẦY CÔ VÀ ĐỒNG MÔN TRƯỜNG HOÀNG DIỆU SÓC TRĂNG THAM QUAN, ỦNG HỘ HOANGDIEUTRUONGXUASAIGON.BLOGSPOT.COM. CHÚC THẦY CÔ VÀ ANH CHỊ EM NHIỀU SỨC KHỎE, THÀNH CÔNG TRONG CÔNG VIỆC.