.

.

a

Hoa đào nở, chim én về, mùa xuân lại đến. Chúc quý thầy cô và anh chị em đồng môn năm mới Ất Tỵ 2025 : - nghìn sự như ý, vạn sự như mơ, triệu sự bất ngờ, tỷ lần hạnh phúc.
THƯƠNG CHÚC THẦY CÔ, ANH CHỊ EM ĐỒNG MÔN TRƯỜNG HOÀNG DIỆU - MỘT NĂM MỚI ẤT TỴ 2025 AN KHANG THỊNH VƯỢNG - VẠN SỰ NHƯ Ý

21 tháng 1 2026

Cái kết buồn cho người đàn ông tự chôn sống trong 61 ngày

 

Năm 1968, Mick Meaney, một người lao động Ireland, rơi vào tình cảnh gần như trắng tay. Nhưng Meaney tin rằng nếu có thể sống trong quan tài dưới đất lâu hơn bất kỳ ai, cả thế giới sẽ nhớ tên mình.


Mike Meaney khi được đặt trong quan tài. Ảnh: TG4

Meaney khỏe mạnh và cường tráng, từng mong ước trở thành nhà vô địch quyền anh. Nhưng chấn thương đã chấm dứt giấc mơ đó và anh phải làm công việc đào đường hầm ở London (Anh). Khi một tai nạn bất ngờ ập đến khiến Meaney bị kẹt dưới đống đổ nát, anh vẫn giữ được bình tĩnh, và một tham vọng khác đã trỗi dậy: Phá kỷ lục chôn sống lâu nhất. Mục tiêu của Meaney còn là tạo danh tiếng và kiếm được nhiều tiền.

Cơn sốt về những “nghệ sĩ chôn sống” bắt nguồn ở California (Mỹ) vào những năm 1920 khi các cuộc thi sức bền khác thường thu hút được nhiều chú ý của dư luận, như thời gian ở trên đỉnh cột, lắc vòng hula, hoặc khiêu vũ lâu nhất... Vào những năm 1960, một cư dân Texas tên Bill White tự xưng là "xác sống" đã theo đuổi “sự nghiệp chôn sống” để quảng bá cho các đại lý ô tô và các doanh nghiệp. Ông đã lập kỷ lục chưa được xác nhận về 55 ngày chôn sống.

Để lập kỷ lục mới, Meaney (33 tuổi), đã hợp tác với Michael Sugrue, một nghệ sĩ xiếc chuyển sang làm chủ quán rượu và ông bầu trong cộng đồng người Ireland ở London. Sugrue đã tổ chức một buổi lễ tại quán rượu có tên Admiral Nelson và Meaney được đặt trong quan tài. Một chiếc xe tải đã chở quan tài đến bãi đất thuộc sở hữu của nhà thầu Mick Keane - người đã phân bổ một phần địa điểm cho màn trình diễn mạo hiểm này.


Mick Meaney giơ bàn tay qua chiếc lỗ trên quan tài khi di chuyển trên đường phố ở London năm 1968. Ảnh: Getty Images

Theo tờ The Guardian (Anh), ngày 21/2/1968, trong đoàn rước đi qua các con phố Kilburn - trái tim của cộng đồng người Ireland tại London, người dân và các nhóm quay phim truyền hình theo sau quan tài dài 1,9m, rộng hơn 76cm, lót mút xốp, và lặng lẽ chứng kiến Meaney được hạ xuống hố.

Sau đó, người ta phủ kín đất lên quan tài, chỉ chừa lại một đường ống dẫn khí, thức ăn cùng nước uống. Có một cửa sập mở ra khoang trống bên dưới quan tài, được dùng làm nơi chứa chất thải.

Trao đổi với người dẫn chương trình truyền hình qua chiếc điện thoại được gắn bên trong quan tài, Meaney chia sẻ: “Đêm qua tôi đã ngủ ngon giấc”. Đó là ngày thứ hai sau khi anh được chôn sống.

Sau đó, ông thiết lập thói quen thức dậy vào lúc 7 giờ sáng, vận động phù hợp, bôi thuốc mỡ lên người, ăn uống, đọc sách báo và nói chuyện qua điện thoại với mọi người. Đường dây kết nối với một chiếc điện thoại tại quán rượu Admiral Nelson, nơi Sugrue tính phí cho mỗi cuộc gọi.

Những người nổi tiếng như võ sĩ quyền Anh Henry Cooper đã đến để trò chuyện qua điện thoại với Meaney. Tuy nhiên, theo thời gian, quan tâm giảm dần. Đến ngày 22/4/1968, Sugrue đã tập hợp các vũ công, nhạc sĩ và nhà báo cho sự kiện “hồi sinh" của Meaney.

Chiếc quan tài được đào lên và đưa lên xe tải, di chuyển qua qua đám đông reo hò, trở lại quán rượu. Khi nắp quan tài được mở ra, Meaney đeo kính râm che mắt và để râu, cười toe toét. Anh nói với các phóng viên: "Tôi muốn thử sức thêm 100 ngày nữa. Tôi rất vui khi được trở thành nhà vô địch thế giới".

Nhưng may mắn lại không đến với Meaney. Có nhiều ý kiến cáo buộc Sugrue đã lừa đảo Meaney. Những lời hứa hẹn về chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới và hợp đồng tài trợ với Gillette không bao giờ thành hiện thực. Meaney trắng tay trở về nhà.

Danh tiếng chỉ thoáng qua. Không có đại diện nào của Sách Kỷ lục Guinness ghi nhận chiến công của Meaney. Sau đó, anh được nhận vào làm việc tại hội đồng hạt Cork.

Meaney trút hơi thở cuối cùng vào năm 2003. Con gái của ông, bà Mary Meaney, chia sẻ: “Bố tôi có thể sống một cuộc đời bình thường thuộc tầng lớp lao động, nhưng ông ấy mong muốn điều phi thường. Việc lập kỷ lục thế giới khiến ông cảm thấy mình là người có tên tuổi”.

Hà Linh/Báo Tin tức và Dân tộc


Bà được khuyên nên bán công ty đang trên bờ vực phá sản của chồng và sống cảnh góa bụa. Nhưng thay vào đó, bà đã xây dựng nên một đế chế mà thế giới chưa sẵn sàng đón nhận.

Khi Melville Bissell qua đời vào năm 1889, ông để lại năm đứa con, một nhà máy sản xuất máy quét thảm đang sụp đổ, và một góa phụ 42 tuổi mà xã hội mong đợi sẽ lặng lẽ bước sang một bên.

Mọi người đều nói với Anna Bissell cùng một điều:
“Bán công ty đi. Lấy bất cứ thứ gì bà có thể. Hãy sống một cuộc đời đàng hoàng.”

Nhưng Anna đã làm được một điều phi thường—bà đã từng cứu công ty đó một lần.

Nhiều năm trước, khi một trận hỏa hoạn thiêu rụi nhà máy của họ, khoản tiền bảo hiểm chi trả hầu như không đủ để bù đắp đống đổ nát. Melville gần như đã bỏ cuộc.

Anna thì không.

Bà đã đến ngân hàng, vay vốn bằng quyết tâm tuyệt đối, và đưa nhà máy hoạt động trở lại sau ba tuần.

Và khi Melville qua đời, bà đã không giao công ty cho bất kỳ ai, hội đồng quản trị hay bất kỳ ai khác.

Bà bước vào phòng họp và nắm quyền điều hành - nhiều thập kỷ trước khi phụ nữ được quyền bầu cử ở hầu hết các tiểu bang.

Những gì xảy ra tiếp theo đã viết lại lịch sử kinh doanh.

Anna bảo vệ bằng sáng chế, xây dựng thương hiệu toàn cầu, mở rộng sang châu Âu, châu Á và Mỹ Latinh, và giành được sự ủng hộ tối cao: Nữ hoàng Victoria đích thân yêu cầu cung điện của bà phải được "Bisselled" mỗi tuần.

Đến năm 1899, Bissell không chỉ tồn tại.

Đó là công ty quét thảm lớn nhất thế giới.

Nhưng thiên tài thực sự của bà nằm ở cách bà đối xử với mọi người.

Trong thời đại mà công nhân nhà máy bị coi là đồ bỏ đi, Anna đã giới thiệu một trong những hệ thống lương hưu đầu tiên của Mỹ.

Bà đã cung cấp chế độ bồi thường cho người lao động từ rất lâu trước khi nó trở thành luật.

Bà cung cấp chế độ nghỉ phép có lương khi hầu hết các công ty thậm chí còn không có giờ nghỉ trưa.

Trong cuộc Đại suy thoái năm 1893, khi các nhà máy khác sa thải hàng ngàn công nhân, Anna đã từ chối sa thải một người nào. Bà giảm giờ làm, chuyển đổi vị trí công việc và bảo vệ mọi việc làm.

Công ty của bà chưa bao giờ có một cuộc đình công nào trong 140 năm.

Đó là di sản của bà được ghi lại bằng lòng trung thành.

Ngoài kinh doanh, bà còn thành lập các trung tâm cộng đồng, tham gia hội đồng quản trị bệnh viện và đích thân giúp đỡ hơn 400 trẻ em tìm được mái ấm gia đình. Bà trở thành nữ ủy viên đầu tiên của nhà thờ và là người phụ nữ duy nhất trong Hiệp hội Nam giới Ngành Cơ khí Quốc gia.

Cho đến khi qua đời vào năm 1934, bà đã lãnh đạo Bissell trong 30 năm và làm chủ tịch hội đồng quản trị thêm 15 năm nữa.

Ngày nay, Bissell vẫn là một công ty gia đình trị giá hơn một tỷ đô la.

Và tất cả bắt đầu từ một góa phụ đã từ chối chấp nhận những giới hạn đặt ra cho mình.

Anna Bissell không chỉ phá vỡ rào cản.

Bà đã dọn sạch toàn bộ con đường cảm hứng cho mỗi người phụ nữ đến sau.


Khi Henry Ford yêu cầu một phòng trọ rẻ nhất thị trấn... mọi người đều kinh ngạc.

▫️ Ông vừa đặt chân đến Anh, lúc đó đã là một triệu phú đô la và là một trong những cái tên nổi tiếng nhất hành tinh.

▫️ Thế nhưng, thay vì tìm kiếm sự xa hoa, ông bình thản bước đến quầy lễ tân sân bay và hỏi:

- “Tôi có thể ở đâu tại một nơi tiết kiệm nhất?”

▫️ Người nhân viên ngập ngừng.

▫️ Áo khoác của ông trông đã cũ sờn. Chiếc vali đơn giản. Giọng nói thì điềm tĩnh.

▫️ Nhưng nhìn kỹ hơn, người nhân viên nhận ra ai đang đứng trước mặt mình.

- Henry Ford.

▫️ Ông trùm công nghiệp từng chiếm lĩnh các mặt báo — bộ mặt đứng sau toàn bộ cuộc cách mạng ô tô.

- “Xin lỗi... ông là ngài Ford phải không?” anh ta kinh ngạc hỏi.

▫️ Ford gật đầu không do dự.

- “Đúng, là tôi.”

▫️ Vẫn còn bối rối, người nhân viên tiếp tục:

- “Con trai ông thường ở trong những khách sạn sang trọng, mặc những bộ vest đẹp nhất... Còn ông — ông lại hỏi phòng rẻ nhất, mặc một chiếc áo khoác còn cũ hơn cả tuổi ông... Tại sao vậy?”

▫️ Ford nở một nụ cười nhẹ nhàng :

- “Tất cả những gì tôi cần là một nơi để ngủ. Dù tôi đi đâu, tôi vẫn là Henry Ford. Và chiếc áo khoác này thuộc về cha tôi. Nó giúp tôi ấm áp — thế là đủ.”

▫️ Ông dừng lại một chút, rồi nói thêm khẽ khàng:

- “Con trai tôi vẫn còn nhiều điều phải học. Nó quá lo lắng về những gì người khác nghĩ. Tôi đã học được rằng bạn không nên trả tiền để mua sự chấp thuận. Tôi không trở nên giàu có bằng cách tiêu xài — tôi trở nên giàu có bằng cách biết điều gì thực sự quan trọng, và điều gì không.”

▫️ Một bài học gói gọn trong sự khiêm tốn:

▫️ Sự giàu có thực sự không nằm ở những gì bạn khoe ra, mà nằm ở những gì bạn thấu hiểu.

▫️ Bạn không phải là quần áo bạn mặc, cũng không phải khách sạn bạn ngủ, hay tài khoản ngân hàng của bạn.

▫️ Bạn là chính bạn — dù bạn đang ở đâu

Sưu tầm


Họ tra tấn bà suốt 45 phút, dìm đầu bà dưới nước cho đến khi gần chết đuối. Bà không khai ra một cái tên nào.
Nhiều năm sau, người anh trai của bà đã đặt tên chai nước hoa nổi tiếng nhất thế giới theo tên bà.

Mùa hè năm 1944. Paris.

Catherine Dior bị bắt và đưa đến số 180 phố Rue de la Pompe, một tòa nhà sang trọng ở quận 16 đã bị biến thành trung tâm tra tấn của những kẻ cộng tác với Đức Quốc xã làm việc cho Gestapo.

Chúng đòi tên.
Ai còn trong mạng lưới Kháng chiến của bà?
Ai là người liên lạc?
Những người khác đang ẩn náu ở đâu?

Catherine từ chối.

Chúng đánh đập bà. Lột quần áo. Trói tay và kéo bà vào phòng tắm. Chúng dìm bà xuống làn nước lạnh buốt cho đến khi bà gần như ngạt thở. Rồi giật đầu bà lên và hỏi lại.

Bà nói dối trong khả năng có thể, nhưng không cung cấp bất kỳ thông tin hữu ích nào.

Việc đó kéo dài bốn mươi lăm phút.

Hai ngày sau, chúng đưa bà quay lại để tra tấn tiếp. Hàng giờ bị dìm trong nước lạnh giá.

Bà vẫn không khai ra một cái tên nào.

Đó chính là Catherine Dior ,người phụ nữ sau này đã truyền cảm hứng cho một trong những chai nước hoa mang tính biểu tượng nhất lịch sử. Nhưng mùi hương gợi lên vẻ thanh lịch Paris ấy lại bắt nguồn từ một điều tăm tối hơn rất nhiều:
một nữ chiến sĩ Kháng chiến Pháp, người đã chịu tra tấn và sống sót qua trại tập trung, thay vì phản bội những người mình yêu thương.

Catherine sinh năm 1917 tại Normandy, kém anh trai Christian mười hai tuổi. Mẹ họ chăm sóc những khu vườn tuyệt đẹp đầy hoa hồng và hoa nhài. Cả hai anh em đều thừa hưởng tình yêu dành cho hoa ,và điều đó đã định hình cuộc đời họ theo những cách không ai ngờ tới.

Tuổi thơ yên bình kết thúc khi mẹ họ qua đời năm 1931 và gia sản gia đình mất sạch sau cuộc khủng hoảng năm 1929.

Christian lên Paris theo đuổi thời trang.
Catherine ở lại Provence, trồng rau để sống qua ngày và mơ về hoa.

Rồi chiến tranh nổ ra.

Năm 1941, khi đang mua một chiếc radio ở Cannes ,để nghe các bài phát biểu của tướng de Gaulle từ London ,Catherine gặp Hervé des Charbonneries, một trong những người sáng lập phong trào Kháng chiến Pháp.

Họ yêu nhau.
Và Catherine tìm thấy mục đích sống.

Bà gia nhập mạng lưới tình báo F2, mật danh “Caro”. Bà thu thập thông tin về các hoạt động của quân Đức, lập báo cáo, truyền tin về London. Những thông tin bà góp phần thu thập đã được sử dụng trong việc lên kế hoạch cho cuộc đổ bộ D-Day.

Đầu năm 1944, Gestapo bắt đầu siết chặt vòng vây. Catherine chuyển về sống trong căn hộ Paris của Christian, tiếp tục công việc. Christian che chở cho bà và tổ chức các cuộc họp bí mật của Kháng chiến, đặt chính mạng sống mình vào nguy hiểm.

Ngày 6 tháng 7 năm 1944, Catherine đến gặp một người liên lạc tại Place du Trocadéro.

Đó là một cái bẫy.
Toàn bộ mạng lưới của bà đã bị phản bội.

Hai mươi bảy người bị bắt trong ngày hôm đó. Người lãnh đạo của họ bị tra tấn đến chết.

Catherine sống sót sau những trận tra tấn ở Rue de la Pompe. Nhưng ngày 15 tháng 8 năm 1944 ,chỉ mười ngày trước khi Paris được giải phóng — bà bị đưa lên một chuyến tàu sang Đức.

Bà đến trại tập trung Ravensbrück ngày 22 tháng 8.
Số tù nhân: 57813.

Ravensbrück là trại được thiết kế chỉ dành cho phụ nữ. Khi Catherine đến, 40.000 tù nhân bị nhồi nhét trong một nơi chỉ được xây cho 6.000 người. Ước tính 50.000 phụ nữ đã chết tại đây.

Catherine bị chuyển qua nhiều trại khác nhau — bị ép sản xuất thuốc nổ trong hầm mỏ, làm linh kiện cho BMW trong nhà máy, rồi chịu đựng những cuộc “hành quân chết chóc” khi nước Đức Quốc xã sụp đổ.

Những trận tra tấn để lại tổn thương vĩnh viễn.
Catherine không bao giờ có thể sinh con.

Tháng 4 năm 1945, lính Mỹ giải phóng bà gần Dresden. Bà phải nằm viện một tháng.

Ngày 28 tháng 5 năm 1945, bà trở về Paris.
Christian ra ga đón em gái.

Ông không nhận ra bà.

Người em gái yêu dấu gầy gò, tiều tụy đến mức ông đi lướt qua mà không nhận ra.

Trong những năm sau đó, Catherine chậm rãi xây dựng lại cuộc đời. Bà đoàn tụ với Hervé và mở một doanh nghiệp hoa, trở thành một trong những phụ nữ đầu tiên ở Pháp được cấp phép buôn bán hoa cắt cành.

Trong khi đó, Christian chuẩn bị thay đổi lịch sử thời trang.

Ngày 12 tháng 2 năm 1947, Christian Dior ra mắt bộ sưu tập đầu tiên — “The New Look” — và trở thành nhà thiết kế nổi tiếng nhất thế giới.

Cũng trong ngày đó, ông cho ra mắt chai nước hoa đầu tiên.

Theo truyền thuyết, Christian đang loay hoay tìm tên cho mùi hương thì Catherine bước vào phòng. Một cộng sự thốt lên:
“À, Miss Dior kìa!”

Christian lập tức nói:
“Miss Dior — đó sẽ là tên nước hoa của tôi!”

Ông đặt tên nó theo người em gái đã đánh đổi tất cả, đã bảo vệ người khác bằng nỗi đau không tưởng, đã trở về bên ông trong tàn phá nhưng không bị khuất phục.

Năm 1952, Catherine ra làm chứng tại phiên tòa xét xử Gestapo ở Rue de la Pompe. Bà kể chi tiết những gì đã xảy ra với mình và nêu tên những phụ nữ đã cùng chịu đựng ,trong đó có những người không bao giờ trở về.

Bà được trao Huân chương Croix de Guerre, Huân chương Dũng cảm của Hoàng gia, và được phong Hiệp sĩ Bắc Đẩu Bội Tinh.

Christian dùng tài sản của mình mua đất ở Grasse, gần quê nhà. Catherine trở thành chuyên gia trồng hoa hồng, hoa nhài và oải hương cho ngành nước hoa, và bán hoa cho nhà Dior.

Khi Christian đột ngột qua đời năm 1957, ở tuổi 52, Catherine tiếp quản di sản của anh. Bà góp phần thành lập Bảo tàng Christian Dior tại quê hương.

Catherine Dior qua đời ngày 17 tháng 6 năm 2008, hưởng thọ 90 tuổi. Năm mươi năm cuối đời, bà sống giữa những vườn hoa.

Khi một cựu binh trẻ từng hỏi bà làm sao bà có thể sống sót qua tất cả những gì đã chịu đựng, bà trả lời:

“Hãy yêu cuộc sống, chàng trai trẻ. Hãy yêu cuộc sống.”

Giờ đây, mỗi khi ai đó mở một chai Miss Dior, dù họ có biết hay không, họ đang tôn vinh một người phụ nữ đã chọn im lặng thay vì phản bội, đã chịu tra tấn mà không khai một cái tên nào, và đã bước ra khỏi chương đen tối nhất của thế kỷ XX để dành phần đời còn lại nuôi dưỡng cái đẹp.

Chai nước hoa ấy chưa bao giờ chỉ là sự hào nhoáng của Paris.

Nó là về sự sống còn.
Về tình yêu.
Về sự kiên quyết trồng lên cái đẹp, ngay cả khi mọi thứ đã bị hủy diệt.

Giống như chính Catherine vậy.
Chia sẻ từ trang Curiously Unusual Wonder

My Lan Pham






Không có nhận xét nào:

CHÀO MỪNG QUÝ THẦY CÔ VÀ ĐỒNG MÔN TRƯỜNG HOÀNG DIỆU SÓC TRĂNG THAM QUAN, ỦNG HỘ HOANGDIEUTRUONGXUASAIGON.BLOGSPOT.COM. CHÚC THẦY CÔ VÀ ANH CHỊ EM NHIỀU SỨC KHỎE, THÀNH CÔNG TRONG CÔNG VIỆC.